PDA

View Full Version : Các Rân Tộc Việt Nam


thanhruoi
04-09-2008, 12:34 PM
Thanhruoi xin giới thiệu tới mọi người về ,VIỆT NAM CHÚNG TA qua hình ảnh và văn hóa các dân tộc ....

Dân tộc Hmông

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/24848b f72ab054e6.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2308)

Dân tộc Hmông cư trú trên một địa bàn rộng ở châu Á, trên lãnh thổ 5 nước: Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Thái Lan và Myanma.

I- LỊCH SỬ VÀ SỰ PHÁT TRIỀN CỦA NGƯỜI HMÔNG TRONG CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM
1- Người Hmông trong kết cấu tộc người trên thế giới

Dân tộc Hmông cư trú trên một địa bàn rộng ở châu Á, trên lãnh thổ 5 nước: Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Thái Lan và Myanma.

Ở Trung Quốc, người Hmông có dân số đông nhất, khoảng 7.398.000 người, chủ yếu ở tỉnh Quý Châu, gồm 4 nhóm: Hmông trắng, Hmông xanh, Hmông đen, Hmông hoa.

Ở Lào, người Hmông có 315.000 người, chủ yếu từ Trung Quốc và Việt Nam di cư sang, gồm người Hmông trắng, Hmông xanh.

Ở Thái Lan, có 152,có 152.000 người, gồm Hmông trắng, Hmông xanh, chủ yếu di cư từ Trung Quốc, Lào sang.

Tại Myanma có khoảng 25.000 người, di cư từ Trung Quốc và Lào tới.

Ở Việt Nam, người Hmông là dân tộc thiểu số có số dân đông, sinh sống chủ yếu ở vùng núi phía Bắc. Theo điều tra dân số năm 1999, ở nước ta có 787,604 người HMông, chiếm 1% dân số cả nước. Trong những năm gần đây, có sự di chuyển của người Hmông vào các tỉnh phía Nam, chủ yếu vào các tỉnh Tây Nguyên, bên cạnh xu hướng từ Đông sang Tây (Lào) vẫn tiếp tục.

Ngoài ra, hiện nay ở các nước phương Tây như Mỹ, Pháp, Úc... cũng có cộng đồng người Hmông sinh sống, song chủ yếu là ở Mỹ (250.000 đến 300.000 người), di cư từ Lào sang sau năm 1975. Ở Pháp có khoảng 11.400 người, ở Úc có khoảng 2.000 người, Canađa có 600 người ...

Về lịch sử, theo các nhà nghiên cứu, dân tộc Hmông là dân tộc thiểu số sống ở Trung Quốc (người Trung Quốc gọi là Miêu). Trong lịch sử, từ thế kỷ thứ IV, ở Trung Quốc đã hình thành Vương quốc HMông. Trong nhiều thế kỷ, họ phải liên tục đấu tranh chống lại sức ép của người Hán. Đến thế kỷ X, Vương quốc Hmông tan rã.

Tuy nhiên, người Hmông không chịu sự đồng hóa của người Hán. Do sự chèn ép của người Hán, người Hmông di cư xuống phía Nam. Như vậy, người Hmông sống ở các nước trên thế giới hiện nay đều có nguồn gốc từ Trung Quốc. Những mâu thuẫn giữa người Hán và người Hmông ở Trung Quốc trong lịch sử dẫn tới sự di cư của người Hmông rất nặng nề, cho đến nay vẫn tồn tại dưới dạng này, dạng khác ...

2- Người Hmông ở Việt Nam

Hiện nay, tuyệt đại đa số người Hmông ở Việt Nam cư trú ở vùng núi cao phía Bắc. Người Hmông có mặt ở 2.384 bản, thuộc 538 xã, tập trung đông nhất ở Hà Giang, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Yên Bái, Cao Bằng, Nghệ An, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Bắc Thái, Hòa Bình, Lạng Sơn và một số tính khác. Trong lịch sử, người Hmông có xu hướng di cư không thích nghi được với hoàn cảnh. Hướng di cư truyền thống của người Hmông ở Việt Nam là từ Đông sang Tây, bám theo rừng. Từ năm 1990 đến nay thêm hướng di cư mới, từ miền núi phía Bắc vào Tây Nguyên và một số tỉnh phía Nam (hướng Bắc - Nam).

Người Hmông ở Việt Nam, cũng như người Hmông ở Lào, Thái Lan, Myanma đều có nguồn gốc từ Trung Quốc di cư sang.

Theo các học giả Việt Nam, người Hmông di cư ở Việt Nam có 3 đợt: đợt sớm nhất là vào thế kỷ XVII; lần 2 vào những năm 1769 - 1820; lần 3 vào thời điểm cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc ở Trung Quốc thất bại.

Một học giả Trung Quốc cho rằng, lịch sử di cư của người Hmông (Miêu) vào Việt Nam có 4 đợt, từ giữa thế kỷ XVII đến sau chiến tranh Nha phiến ở Trung Quốc. Nói như vậy không có nghĩa là cuộc dịch chuyển của người Hmông vào Việt Nam hay một số quốc gia đến nay đã hết. Một trong những thuộc tính của người Hmông là dịch chuyển, khi họ không đủ sức ứng phó với hoàn cảnh.

Quá trình dịch chuyển của người Hmông rất phức tạp, sự di cư tự do của người Hmông vào các tính Tây Nguyên (có cả các dân tộc khác, như người Nùng, người Thái, người Dao...) diễn ra do nhiều nguyên nhân. Do có sự chuyển đổi cơ chế kinh tế (giao đất đến các hộ gia đình, có sự đòi đất tổ tiên, thiếu đất canh tác ...), đất canh tác xấu, rừng bị tàn phá nhiều... Chiến tranh biên giới 1979 cũng có tác động nhất định. Bên cạnh đó, vấn đề tôn giáo kết hợp với sự lôi kéo của các thế lực thù địch cũng dẫn đến di chuyển cư. Tuy nhiên, sự di cư của người Hmông còn có những yếu tố lịch sử và truyền thống khác.

Người Hmông cư trú trên địa bàn rộng, nên ngay trong cộng đồng của họ đã có những cách ứng xử rất đa dạng, thể hiện sự thích nghi của người Mông, đặc biệt là thông qua hệ thống canh tác. Đối với những vùng cao như Mèo Vạc, Đồng Văn (Hà Giang), cách thích nghi của họ chủ yếu là trồng ngô trong các hốc đá và món ưa thích là mèn mén (ngô xay). Nhưng ở Lào Cai, họ lại có những cánh đồng lúa nước khá rộng và những thửa ruộng bậc thang rất đẹp.

3- Nét đặc trưng của xã hội người Hmông

a) Thiết chế dòng họ

Tính đến nay người Hmông có khoảng 20 dòng họ. Cấu kết dòng họ của người Hmông có đặc điểm sau:

- Cấu kết rộng: Theo người Mông, những người có cùng một họ đều là anh em, dù người đó cư trú ở đâu, không phụ thuộc vào biên giới quốc gia.

- Cấu kết hẹp: Những người có cùng huyết thống theo dọng họ cha. Tuy nhiên, mối quan hệ dòng họ của người Hmông dựa vào rất nhiều tiêu chí. Đầu tiên là quan hệ huyết thống và sau đó là tập quán và nghi lễ giống nhau. Những người có cùng một ma (cách thức cúng bái như nhau), được coi là người cùng họ. Người Hmông có một trong những nghi lễ không thể thiếu được là làm nhụ đa (ma bò, lễ vật hiến tế là con bò). Mỗi dòng họ có cách thức cúng, vị trí để con bò, cách bày cúng (có họ bày 1 phần, có họ bày 5 phần ..., theo nguyên tắc số lẻ). Theo cách thức của người Hmông, người ta giải thích số lẻ là số của ma, số để cúng. Khi hai người Hmông gặp nhau, người ta không cần hỏi tổ tiên của anh là ai, chỉ cần hỏi anh cúng ma bò bày như thế nào, bày mấy phần. Nếu giống nhau, biết ngay họ là anh em ruột.

Một cách nhận biết khác trong quan hệ thân thuộc là qua cúng ma buồng (cúng để cầu mong cho đàn gia súc). Buồng là nơi ở của người phụ nữ, nhưng người phụ nữ cũng là người chuyên chăm lo cho chăn nuôi. Khi cúng ma buồng, cầu mong cho đàn gia súc phát triển thì mỗi dòng họ cũng có cách cúng khác nhau.

Mỗi dòng họ có một kiểu, nghi thức cúng ma riêng. Cách đặt người chết trong nhà phụ thuộc vào dòng họ. Có dòng họ đặt dọc nhà nhưng sát bàn thờ, nhưng có dòng họ lại đặt ngang. Khâm niệm của các dòng họ cũng khác nhau. Có dòng họ khâm niệm tại nhà, có dòng họ khiêng người chết ra nghĩa trang rồi mới khâm niệm. Những nét riêng của người Hmông đã tạo nên tính cố kết của những người có quan hệ huyết thống với nhau. Người cùng dòng họ người Hmông thì được chết ở bên nhau. Bên cạnh đó là những kiêng cữ về thức ăn và các loại thực phẩm.

b) Tổ chức của dòng họ

- Vai trò lớn nhất là người trưởng họ, người Hmông gọi là cái gốc. Trưởng họ là người am hiểu các quy định, các bài cúng của dòng họ mình, thành thạo phong tục và cách ứng xử. Trưởng họ là người có uy tín, có hiểu biết về phong tục của dòng họ. Trưởng họ có nơi bầu, có nơi kế thừa, chưa truyền con nối, không có khuôn mẫu, tuỳ từng dòng họ vận dụng khác nhau. Vai trò của người trưởng họ chi phối hầu hết các lĩnh vực của người Hmông (trong sản xuất, tang ma, cưới xin, di chuyển). Công tác tư tưởng muốn đưa chủ trương, đường lối, chính sách..., muốn giải quyết các vấn đề khúc mắc, tranh chấp dứt điểm phải chú ý đến điều này. Trưởng ban tuyên truyền, vận động mà là trưởng họ thì rất tốt. Khi giải quyết các vấn đề giữa các dòng họ, không có gì tốt hơn là các ông trưởng họ dàn xếp với nhau.

- Đối với người Hmông, sau trưởng họ, người có tiếng nói quan trọng thứ hai trong dòng họ là bà cô. Bà cô có thể thay đổi các nghi thức cúng bái của dòng họ. Khi vận động xây dựng nếp sống văn hóa mới trong ma chay, cưới xin..., chúng ta cần quan tâm đến vai trò của bà cô trong dòng họ.

- Trong xã hội của người Hmông, vai trò của thầy cúng cũng rất lớn. Khi tiếp xúc với xã hội người Hmông, không thể không tính đến vai trò của thầy cúng, và không nên chỉ hiểu đó là vấn đề mê tín, mà cần đặt trong đặc điểm kết cấu xã hội của họ.

Có thể nói, cái cố kết chủ yếu trong xã hội người Hmông là dòng họ. Nó chi phối các hoạt động của người Hmông, kể cả trong phát triển sản xuất, tổ chức không gian cư trú (nơi ở)... Đối với người Hmông trưởng họ, bà cô, thầy cúng là những người có uy tín và có vai trò rất quan trọng.

st:tại vietnamculture

thanhruoi
04-09-2008, 12:45 PM
http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/24848b f73fb1cb89.gif (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2309)

Tên gọi khác



Cur, Cul, Cu, Thổ, Việt gốc Miên, Khơ me Krôm
Nhóm ngôn ngữ
Môn - Khmer
Dân số
1.000.000 người.

Cư trú
Sống tập trung tại các tỉnh Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Kiên Giang, An Giang.
Đặc điểm kinh tế
Người Khmer đã biết thâm canh lúa nước từ lâu đời. Đồng bào biết chọn giống lúa, biết làm thủy lợi và lợi dụng thủy triều để thau chua, xổ phèn cải tạo đất, có địa phương trồng nhiều dưa hấu. Đồng bào cũng phát triển kinh tế toàn diện như chăn nuôi trâu bò để cày kéo, nuôi lợn, gà, vịt đàn, thả cá và phát triển các nghề thủ công như dệt, gốm, làm đường từ cây thốt nốt.

Văn hóa
http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/24848b f74f8b6464.gif (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2310) http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/24848b f7503bb2ee.gif (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2311)

Từ lâu và hiện nay, chùa Khmer là tụ điểm sinh hoạt văn hóa - xã hội của đồng bào. Trong mỗi chùa có nhiều sư (gọi là các ông lục) và do sư cả đứng đầu. Thanh niên người Khmer trước khi trưởng thành thường đến chùa tu học để trau dồi đức hạnh và kiến thức. Hiện nay ở Nam Bộ có trên 400 chùa Khmer. Nhà chùa thường dạy kinh nghiệm sản xuất, dạy chữ Khmer.

Đồng bào Khmer có tiếng nói và chữ viết riêng, nhưng cùng chung một nền văn hóa, một lịch sử bảo vệ và xây dựng tổ quốc Việt Nam. Đồng bào Khmer sống xen kẽ với đồng bào Kinh, Hoa trong các phum, sóc, ấp.

Đồng bào Khmer Nam Bộ có nhiều phong tục tập quán và có nền văn hóa nghệ thuật rất độc đáo. Những chùa lớn thường có đội trống, kèn, đàn, có đội ghe ngo... Hàng năm người Khmer có nhiều ngày hội, ngày tết dân tộc.

Đồng bào Khmer có các ngày lễ lớn là Chôn Chơ nam thơ mây (năm mới), lễ Phật đản, lễ Đôn ta (xá tội vong nhân), Oóc bom boóc (cúng trăng
Nhà cửa
Người Khơ me vốn ở nhà sàn, nhưng nay nhà sàn chỉ còn lại rất ít ở dọc biên giới Việt - Campuchia và một số nhỏ trong các chùa phật giáo Khơ me là nơi hội họp sư sãi và tín đồ... Cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt của nhà Khơ me khá đơn giản

Nay số đông người Khơ me ở nhà đất. Bộ khung nhà đất được làm khá chắc chắn. Nhiều nơi làm theo kiểu vì kèo của nhà Việt cùng địa phương. Trong nhà được bài trí như sau: Nhà chia làm hai phần theo chiều ngang, một phần làm nơi ở, một phần dành cho bếp núc. Phần dành để ở lại chia thành hai phần theo chiều dọc: phần phía trước, ở giữa kê bàn ghế tiếp khách, bên cạnh thường có tủ kính đựng những chiếc gối thêu vừa để trang trí vừa tiện dùng có khách. Sau bộ bàn ghế tiếp khách là bàn thờ Phật. Nữa sau, bên phải là buồng của vợ chồng chủ nhà. Về bên trái là phòng con gái.

Trang phục
Trang phục cổ truyền có cá tính ở lối mặc váy và phong cách trang phục gắn với tín giáo đạo Phật.

Trang phục nam
Thường nhật nam giới trung niên và người già thường mặc bộ bà ba đen, quấn khăn rằn trên đầu. Trong dịp lễ, tết họ mặc áo bà ba trắng, quần đen (hoặc áo đen, quàng khăn quàng trắng chéo ngang hông vắt lên vai trái. Trong đám cưới chú rể thường mặt bộ "xà rông" (hôl) và áo ngắn bỏ ngoài màu đỏ. Đây là loại áo xẻ ngực, cổ đứng cài cúc, quàng khăn trắng vắt qua vai trái và đeo thêm ''con dao cưới'' (kầm pách) với ý nghĩa bảo vệ cô dâu. Thanh niên hiện nay khi ở nhà thường không mặc áo và quấn chiếc ''xà rông'' kẻ sọc
Trang phục nữ
Cách đây ba, bốn mươi năm phụ nữ Khơ Me Nam Bộ thường mặc ''xăm pốt'' (váy). Đó là loại váy bằng tơ tằm, hình ống (kín). Chiếc váy điển hình là loại xăm pốt chân khen, một loại váy hở, quấn quanh thân nhưng khác nhiều tộc người khác cũng có loại váy này là cách mang váy vào thân. Đó là cách mang luồn giữa hai chân từ sau ra trước, rồi kéo lên dắt cạnh hông tạo thành như chiếc quần ngắn và rộng. Nếu cách tạo hình váy và một số mô tip hoa văn trên váy có thể có sự tiếp xúc với các tộc người khác thì cách mặc váy này có thể xem là đặc trưng độc đáo của Khơ Me Nam Bộ. Họ thường mặc váy trong những ngày lễ lớn, mỗi ngày mặc một màu khác nhau trong suốt tuần lễ đó. Đó là loại xăm pốt pha muông.

Ngày nay các loại trên ít thấy, có khả chăng chỉ trên sân khấu cổ truyền mà thôi. Người Khơ Me có kỹ thuật nhuộm vải đen tuyền bóng lâu phai từ quả mặc lưa để may trang phục. Thường nhật hiện nay người Khơ Me ảnh hưởng văn hóa Kinh qua trang phục. Trong lễ, Tết lại mặc loại áo dài giống người Chăm. Ngoài ra phụ nữ Khơ Me còn phổ biến loại khăn Krama dệt ô vuông màu xanh, đỏ trên nền trắng. Ngày cưới các cô dâu thường mặc chiếc xăm pốt hôl màu tím sẫm hay hồng cánh sen, áo dài tăm pông màu đỏ thẩm, quàng khăn chéo qua người, đội mũ pkel plac hay loại mũ tháp nhọn nhiều tầng bằng kim loại hay giấy bồi.



st:tại vietnamculture

Admin
04-09-2008, 01:27 PM
Còn tiếp không thanhruoi ? Post tiếp để mọi người cùng đọc ;)

thanhruoi
04-09-2008, 01:37 PM
Còn Chứ Việt Nam Có 54 Rân Tộc

Và Hơn Thế Nữa.

thanhruoi
05-09-2008, 01:13 PM
http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/24848c 0cd69d4dfa.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2348) Dân tộc La Ha hiện có 2000 người cư trú ở miền núi thuộc miền hữu ngạn sông Hồng (tỉnh Hoàng Liên Sơn) và miền lưu vực sông Đà (tỉnh Sơn La). Do sống xen kẽ lâu đời, trong các bản La Ha hiện nay đều có người Kháng , Thái và các dân tộc khác. Dân tộc La Ha chia thành hai ngành : La Ha Ủng (La Ha ở nước) và Khla Phlao hay La Ha Phlao (người LA Ha ở cạn).

Tổ tiên người La Ha đã sớm có mặt ở miền tây bắc nước ta. Vào thế kỷ XI – XII,khi ngành Thái Đen thiên đi đến miền này, tổ tiên người La Ha đã cư trú ở nhiều nơi, với rất nhiều tên gọi được ghi chép trong các sách cổ chữ Thái.

Ngôn ngữ La Ha được xếp vào ngữ hệ Nam – Á. Cùng với ngôn ngữ Pu Péo ở Hà Tuyên, ngôn ngữ La Ha có nhiều yếu tố Môn – Khơme, Tày- Thái và Malayo – Pôlinnêdia

Theo truyền thuyết, tổ tiên người La Ha là một trong những cư dân đã khai phá ruộng nước ở các thung lũng lòng chảo miền Tây Bắc nước ta. Từ khi người Thái tới đây, số đông họ đã hòa vào nhóm Thái.

Hiện nay đại bộ phận đồng bào sinh sống chủ yếu bằng nương rẫy trồng lúa nếp và các loại ngô, khoai, sắn… và bông. Đặc điểm của loại hình kinh tế này là chặt, phát rừng cây, để khô nỏ, đốt cháy thành tro, rồi gieo trồng bằng phương pháp chọc lỗ bỏ hạt, dẫn đến du canh, du cư. Tình trạng này tùy từng vùng, từng nơi có thể chia ra làm ba mức độ :

1) Du canh, du cư, hoàn toàn sinh sống bằng nương rẫy.

2) Bán định canh hay du canh, bán định cư, sinh sống bằng nưỡng rẫy kết hợp làm thêm một ít ruộng nước.

3) Định canh, định cư, sinh sống bằng ruộng nước kết hợp với làm nương rẫy.

Hiện nay tuy loại hình canh tác này còn ít nhưng đang được phát triển ở nhiều nơi và là một trong những hướng để vận động đồng bào La Ha định canh, định cư theo chủ trương của Đảng và Chính phủ. Các hợp tác xã Pi Tay (Mường La), bản Bung (Thuận Châu) là những điểm đã thực hiện định canh, định cư theo hướng này.

Ngoài việc trồng trọt, người La Ha còn chăn nuôi, đan nát, hái lượm, săn đánh cá và đặc biệt nghề dệt vải rất phát triển.

Bản của những người La Ha được dựng ở những nơi thuận tiện làm nương kết hợp với việc làm ruộng chờ mưa. Và được bố trí theo hình thức mật tập từ 10 nóc nhà trở lên.

Đồng bào ở nhà sàn, trước đây được cấu trúc theo hai kiểu :

a) Kiểu ở tạm từ một đến ba năm :

Đây là kiểu nhà của những nhóm sống du canh du cư. Họ thường lấy những cây gỗ có sẵn ngoãm để làm cột và tre, gỗ để dựng nhà ít gia công đục đẽo. hai đầu hồi lượn tròn theo hình bầu dục dài ra hai bên, đồng bào gọi là làm theo hình hàm lợn (khang mậu) hoặc vuông góc theo kiến trúc của người kinh gọi là thup lặt. Kiểu nhà này thường có một hai năm đã xiêu vẹo, phải chống thêm cột khăm để giữ cho khỏi đổ.

b)Kiểu ở lâu năm:

Đây là kiểu nhà của những nhóm cư dân sống bán định cư, bán định canh hoặc định cư, định căn. Ở vùng Thuận Châu, Mường La, đồng bào thường dựng theo kiểu người Thái Đen – nhà sàn to có mái hai đầu hồi chòm khung hình mai rùa.

Về bố cục trong nhà, người La Ha ở Than Uyên giữ được nhiều nét đặc sắc dân tộc. Trong nhà thường chia làm hai phần. Một phần dần hẳn để tiếp khách, thường chiếm đến một nửa hoặc hai phần ba diện tích trong nhà. Nơi thờ cúng tổ tiên theo họ có hình thức khác nhau. Nhà họ Lò có cái liếp đan bằng tre rộng 30 – 40 phân, cao 1,60m đặt ở vách ngăn giữa phần chủ và khách, cột để buộc hũ rượu cần bên cạnh. Nhà họ Quàng không có tấm liếp đan bằng tre mà chỉ có cột buộc hũ rượu cần để cúng.

Đồng bào ăn cơm nếp, tháng thiếu gạo nếp mới dùng cơm tẻ hoặc độn ngô, sắn.

Đồng bào la ha cũng có tục nhuộm răng đen và ăn trầu. Ở một vài nơi họ còn có tục ăn đất thó sấy. Đây là tập quán giống người Kinh ở vùng Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phú và nhiều nơi khác.

Trang phục của người La Ha giống như người Thái.

Dưới chế độ đế quốc và bọn phìa tạo tay sai, người La Ha là một trong những dân tộc bị áp bức bóc lột nặng nề. Họ bị bắt làm pụa – một hình thức cưỡng bức lao dịch của phìa tạo đặt ra. Phìa tạo còn quy định, nếu dân pụa không thể đảm đương được nổi số công lao dịch đã định, phải nộp bằng hiện vật ngang giá gọi là nguột. Nguột thường được quy thành thóc, nên cũng có tên khẩu nguột(thóc giá).

Cũng có nơi phìa tạo không bắt đồng bào làm bụa mà bắt làm cuông. Lối bóc lột này không cho phép họ nộp nguột để thay thế công lao dịch không hạn định cho nhà chủ.

Nằm trong bộ máy thống trị của chế độ phìa tạo ở mỗi bản, người La Ha thường có một người đứng đầu gọi là khun cai. Giúp việc khun cai có khun tang và khun téng. Khun tang là người thay mặt khun cai chịu trách nhiệm trực tiếp đôn đốc việc làm cuông và bụa cho phìa tạo. Khun téng chịu trách nhiệm việc trị an ở trong bản. Ba chức này có nơi do chính quyền phìa tạo chỉ định cũng có nơi do dân cử, nhưng phải được chính quyền phìa tạo chấp thuận. Riêng chức Khun cai, khi nhận chức phải nộp cho phìa tạo từ 30 – 100 đồng bạc để mua chức (ngấn mun chức). Nộp đủ số tiền đó, khun cai được hưởng tiền phạt nhỏ và phần thịt thú dân săn được trong phạm vi bản mình phụ trách. Cũng theo luật Thái, Khun cai, Khun téng được chia ruộng công gọi là ná bớt (ruộng dành cho chức).

*

* *

Tiểu gia đình phụ quyền đã hoàn toàn chiếm ưu thế trong xã hội người La Ha.

Trong gia đình người vợ hoàn toàn phụ thuộc chồng. Sau khi làm đầy đủ nghi thức của hôn lễ, người đàn bà phải đổi theo họ chồng. Nếu chồng chết, người đàn bà góa không được phép trở lại với bố mẹ hoặc họ hàng của mình mà phải ở với con trai lớn hoặc họ hàng nhà chồng. Đàn bà góa được tự do đi bước nữa. Lúc đó chồng kế chỉ cần làm lễ thu cơi poong (bảo cưới) ở nhà chồng đã chết hoặc ở họ hàng chồng cũ là đủ. Theo quan niệm mê tín, người La Ha cho rằng đời người chỉ có một chồng hay một vợ chính thức. Sau khi chết vợ chồng sẽ sang “thế giới bên kia” để tiếp tục đoàn tụ. Vì vậy trước khi bố chết chưa làm đủ nghi thức hôn lễ với bữa thu ma phu (cơm rượu lớn), con trai phải làm tiếp để ma bố mẹ được “sum họp”.

Tài sản trong nhà của chồng, vợ không có quyền tự ý sử dụng. Khi chồng chết các tài sản đó thuộc về con trai. Nếu không có con trai thừa kế, thì những anh em nhà chồng được hoàn toàn xử lý.

Bất kể trường hợp nào, khi còn ở rể cũng như sau khi cưới, con trai , con gái đều theo họ cha. Khi cha chết, bọn trẻ được họ hàng của cha nuôi nấng.

Cha và các thành viên trong họ nội có quyền gả bán con gái. Khi trưởng thành nam nữ tự do tìm hiểu, nhưng muốn thành vợ thành chồng thì phải tuân theo ý cha. Người con trai muốn có vợ chính thức phải ở rể từ 4 đến 8 năm. Đấy là thời gian người con trai lấy công mình trả công của bố mẹ nuôi nấng vợ của mình. Ngoài ra người con trai còn phải nộp ba lạng rưỡi bạc trắng gọi là tiền nang kha pọm (giá đầu vợ). Như vậy tục ở rể là tàn dư hôn nhân cư trú bên nhà vợ của thời kỳ mẫu hệ, đã mang nội dung hôn nhân mua bán của xã hội có giai cấp.

Ở người La Ha, anh em kết nghĩa được coi như anh em ruột.

Hiện nay hình thức tiểu gia đình phụ quyền vẫn được bảo lưu. Việc hôn nhân đã được cải tiến theo hướng tiến bộ. Đồng bào đang bỏ hẳn tục lệ hôn nhân mua bán, tục ở rể và từng bước xây dựng quan hệ hôn nhân gia đình theo luật của nhà nước.

*

* *

Xưa người La Ha cho rằng mỗi người có tám linh hồn. Hồn chủ ở trên đỉnh đầu, các hồn khác ở mồm, mũi, cằm và tứ chi.Khi linh hồn không còn trong thể xác nữa, người chết. Lúc đó hồn người biến thành ma (kda). Nếu chất bình thường, tùy từng trường hợp mà biến thành ma khác nhau. Trẻ em chết biến thành ma ranh (kda cớt), kẻ chết vì tình ái biến thành kda plai, chết do bị đâm chém biến thành kda klong.

Trên mặt đất, người La Ha xưa cho rằng còn có một thế giới của các loài ma. Ở rừng có ma rừng (kda pá), sông suối có ma nước (kda ủng) v.v …

Ngày nay nhờ sự giáo dục của Đảng, nhờ công tác y tế đã phát triển mạnh mẽ nên tệ mê tín ma quỷ đã từng bước bị xóa bỏ.

*

* *

Người La Ha có tục thờ ma nhà hay còn gọi là tục thờ cha. Khi cha chết con cả phá liếp thờ ma nhà rồi lại dựng lại liếp mới với mục đích đuổi ma ông (bố của cha) ra ở nương rồi sau đó lại đón ma cha về thờ. Mẹ chết trước cha con trai cả đập vào vách trên đầu để báo hiệu cho tổ tiên biết đón sang “thế giới bên kia”. Khi cúng ma nương, người La Ha có tục kiêng nói tiếng Thái vì xưa kia tổ tiên chưa sử dụng ngôn ngữ này. Trái lại khi cúng cha ở trong nhà, kiêng kỵ này không còn tác dụng.

Hàng năm, vào dịp hoa mai nở rộ, người La Ha tiến hành lễ “mừng xuân” (le đắm phịng man) để đền ơn cha nuôi nấng.

Sáng hôm đó, chủ nhà mời bà con trong bản đến mừng lễ. Họ đồ một chõ xôi trắng và một chõ xôi cẩm; đồ các con vật săn bắt đã sấy, khoai sọ, bầu bí, và một vài loại rau trồng trên nương. Sau đó, bà chủ gói mỗi thứ bằng lá chuối tươi đặt lên mâm cúng ra bếp. Đồng bào gọi đây là lễ tạ ơn cha mẹ.

Đến gần trưa, chủ nhà bắt một con lợn to đến đặt trước nơi thờ cha mẹ. Người La Ha Ủng dùng lợn lái, người khla phlao dùng lợn bột. Sau đó họ đem lợn ra mổ và luộc chín ngay ở cạnh gian thờ trong khi bà chủ nhà tiếp tục đồ một gói xôi nếp cẩm. Khi xôi sắp chín, bà chue dem hạt thóc, hạt bông quải khắp nhà, biểu thị việc gieo giống ở nương. Xôi cẩm chín được đổ ra mâm để mọi người xô lại tranh nhau lấy ăn, tỏ ý chúc cho vụ sản xuất năm mới của củ nhà được kết quả.

Ông chủ đặt thủ và thịt lợn lên mâm, bưng đến đặt ở chỗ thờ cha mẹ, rồi mời ông mo vào cúng. Khi đó ở bên họ nhà vợ cũng mổ một con lợn luộc chín rồi chặt lấy miếng khoanh cổ mang sang biếu cho nhà chủ. Nhà chủ đáp lễ cho nhà vợ bằng một gói cơi mook.

Người chết, đồng bào La Ha đem chôn, không theo tục hỏa tang như người Thái Đen. Để chuẩn bị cho người chết tiếp tục “sống” ở bên kia thế giới, họ đã chôn thóc và tiền theo thi hài. Tiền, thóc được rải lót ở phần đầu, hai cánh tay và hai gót chân – nơi hồn vẫn ở khi còn sống. Liệm xong thi hài được đặt lên chõng và khiêng ra chỗ chôn mới bỏ vào quan tài để hạ huyệt. Quan tài được đục bằng một than gỗ to, Hạ huyệt xong người ta đưa đám vốc mỗi người một lắm đất bỏ xuống mặt quan tài để lấp. Mồ người chết được đắp cao ngang đầu gối, hình vuông và xung quanh có đào rãnh để thoát nước. Ở phía đầu và phía chân có đường ra vào qua rãnh. Phía trên có nhà mồ hai mái chống bởi hai cột giữ nóc, hai bên do xà ngang giang ra để đỡ hai cánh. Cạnh mồ đặt giỏ xôi, mâm cơm, điếu cày, hòm đựng quần áo, chăn và đệm… Bốn góc cắm bốn lá cờ làm bằng những vuông vải trắng, vàng. Xung quanh có rào và chỉ mở một lối ra vào ở phía chân người chết.

Khi trở về, người đưa đám phải khua cối giã gạo để đuổi ma, rồi lới được bước lên thang váo nhà. Người La Ha đưa hồn người chết theo dọc sông Đà về Hát Lảng ở phía nam thị xã Lai Châu. Sau đó người Ha La ủng đưa hồn người chết xuôi theo sông Đà, còn người La Ha phlao đưa hồn người chết lên rừng núi.

*

* *

Do cộng cư lâu đời, người La Ha đã sử dụng tiếng Thái rất thành thạo. Nội dung thơ ca dân gian La Ha hầu như thể hiện bằng tiếng Thái, thường nói lên nỗi thống khổ của người làm cuông và pụa. Có nhiều bài đã biểu lộ sự căm phẫn chế độ áp bức bóc lột rất mạnh mẽ.

Nhìn lại cuộc sống của người La Ha xưa thật khổ cực biết chừng nào. Họ bị chế độ phìa tao tay sai thực dân Pháp áp bức bóc lột. Trình độ sản xuất của họ kém phát triển, năng suất lao động thấp, sinh hoạt không ổn định.

Song chính từ cảnh khổ đó đồng bào đã hăng hái tham gia cách mạng. Nhiều vùng La Ha đã trở thành cơ sở kháng chiến chống Pháp (1946 – 1952. Ở đó có những quần chúng La Ha bần bỉ nuôi giấu cán bốuoots mấy ăm ròng. Đã có quần chúng bị địch bắt tra tấn rất dã man, nhưng vẫn một mực không khai báo, giữ vững được cơ sở. Nhờ có thành tích đó, nhiều người đã được cấp trên tặng giấy khen, bằng khen và được Chính Phủ tặng huân chương Kháng chiến.

Miền Tây Bắc được giải phóng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính Phủ, cuộc sống mới tự do, bình đẳng đã thay đổi cuộc sống tăm tối khi xưa. Trong ca dao mới của đồng bào đã thể hiện biết bao nỗi xúc động trước sự biến chuyển lớn lao đó.

Quyền bình đẳng dân tộc đã được thực hiện. Đồng bào đã có đại diện của mình trong các cấp xã và huyện, có nhiều y sĩ, y tá, giáo viên cấp 1 và cán bọ thoát ly gia đình đi công tác ở tỉnh. Các Bản đã có tổ Đảng làm nhân lõi lãnh đạo và dẫn dắt bà con làm ăn.

Vấn đề định căn, định cư hiện nay đang được thực hiện ở vùng đồng bào La Ha. Từ bản Púng Cuông du canh, bán định cư chuyển sang bản Nà Tạy định canh,định cư trên cơ sở ruộng nước vững chắc, là một bước chuyển biến rõ rệt của đồng bào. Và giờ đây bản Nà Tạy đã hợp nhất với bản Pi(Thái) thành hợp tác xã Pi Tạy vững vàng, được huyện và tỉnh biểu dương. Ở vùng dọc sông Đà hay ở xã noong Lay huyện Thuận Châu, đồng bào đang chuyển vùng đất nương thành vùng chuyên canh và làm lâm nghiệp.

Hợp tác xã hợp nhất giữa các bản La Ha và Thái là hình thức phổ biến hiện nay. Chính trong các đưn vị mới này, sản xuất đang phát triển. đời sống của đồng bào đang được nâng dần lên.




theo:vietnamculture

Okiaem
05-09-2008, 10:19 PM
CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM không phải "các rân tộc Việt Nam"

Nhớ ai đó trên forum đã nói "đọc bài sai chính tả như ăn cơm vớ phải sạn". Nhưng đọc bài của thanhruoi như ăn cơm gạo tám thơm, đang ngon, ngọt, bùi, nặng lòng quê hương, xót xa quê hương... nói chung là đang sướng tự nhiên có... HÒN ĐÁ HỘC chui vào mồm :(

Thấy Thanhruoi rất hay tham gia, rất quý, nhưng mà bro cũng nên chỉnh lại con chữ một chút, chầm chậm thôi, từ từ thôi. Chân thành đấy.

thanhruoi
05-09-2008, 10:28 PM
CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM không phải "các rân tộc Việt Nam"

Nhớ ai đó trên forum đã nói "đọc bài sai chính tả như ăn cơm vớ phải sạn". Nhưng đọc bài của thanhruoi như ăn cơm gạo tám thơm, đang ngon, ngọt, bùi, nặng lòng quê hương, xót xa quê hương... nói chung là đang sướng tự nhiên có... HÒN ĐÁ HỘC chui vào mồm :(

Thấy Thanhruoi rất hay tham gia, rất quý, nhưng mà bro cũng nên chỉnh lại con chữ một chút, chầm chậm thôi, từ từ thôi. Chân thành đấy.

CÁM ƠN NHÉ !

TÍNH THANHRUOI ẨU LẮM NÊN MỌI NGƯỜI GÓP Ý NHIỀU NHÉ ....THÀNH THỰC ,THẲNG THẮN..!!!!O:-)QUÝ.

thanhruoi
06-09-2008, 03:02 PM
http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/24848c 238ccd9df0.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2397) Với dân số trên 55 vạn, người Nùng cư trú ở các tỉnh Cao Lạng, Bắc Thái, Hà Tuyên, Hoàng Liên Sơn, Hà Bắc, Quảng Ninh. Có một bộ phận gần đây mới lần lần tràn xuống phía Nam và dừng chân tại miền trung du, sống xen ghép với người Kinh, Cao Lan – Sán Chỉ, Sán Dìu, Hoa và cả với người Dao nữa. Người Nùng cùng với người Tày – Thái nằm trong khối Bách Việt. Vào thế kỷ thứ III trước Công nguyên, ở lưu vực sông Cầu và sông Hồng, người nước Âu Lạc với vị thủ lĩnh An Dương Vương Thục Phán đã ra đời, mà người Nùng có thể là một thành phần của nó.

Những nhóm Nùng hiện nay vẫn mang tộc danh Nùng thì mới chỉ di cư sang Việt Nam trong những thế kỷ gần đây. Những gia phả, sách cúng, sách hát đồng bào còn giữ lại được đã cho thấy rõ, họ mới tới Việt Nam được 9 – 10 đời người, tức khoảng 200 – 300 năm nay. Một trong những bằng chứng tỏ rõ người Nùng hiện thời cư trú trên lãnh thổ Việt Nam chưa lâu lắm là những đặc điểm phân bố của họ. Họ ở trong các thung lũng nhỏ hẹp, không đủ điều kiện làm ruộng nước, thường phải khai thác một phần thành nương rẫy, tức đất thổ canh mà thôi.

Đại bộ phận người Nùng ở nước ta là những người di cư sang từ Quảng Tây (Trung Quốc). Họ di cư theo từng nhóm. Nguyên nhân của những cuộc thiên di có thể kể ra hàng loạt, nhưng chủ yếu là do bị áp bức bóc lột nặng nề, bị chèn ép, nhất là bị đàn áp, tàn sát đẫm máu sau các cuộc khởi nghĩa không thành công. Loạn lạc cướp bóc cùng với nạn thiếu ruộng đất cũng thúc đẩy họ đi tìm nơi sinh sống dễ chịu hơn.

Dân tộc Nùng đã hình thành từ lâu, nhưng sự cố kết nội bộ còn ở mức thấp và tiến triển hết sức chậm chạp. Sự tồn tại các nhóm địa phương với những tên gọi khác nhau, những khác biệt trong ngôn ngữ, trong sinh hoạt văn hóa vật chất cũng như tinh thần đã nói lên điều đó. Đều tự nhận là Nùng cả, nhưng cung có khi nhóm này ít thông hiểu nhóm kia. Chẳng hạn người Nùng Phản Sling, Nùng An, Nùng Lòi không thể trao đổi với nhau bằng tiếng nói riêng của mỗi nhóm. Sự sai biệt có thể là từ vựng, nhưng chủ yếu là ngữ âm. Trong khi đó thì tiến nói của một số nhóm, thì lại rất gần gũi vơi tiếng Tày. Giữa các nhóm đó có thể trao đổi với nhau bằng tiếng nói của nhóm mình. Có thể thấy, trong khi tiếng Nùng An khác với các phương ngôn khác của người Nùng, thì về nhiều mặt, nhất là về mặt từ vựng, lại giống tiếng Cao Lan.

Những tên gọi của các nhóm địa phương người Nùng có thể tổ hợp thành hai nhóm:

a) Những tên gọi theo đặc điểm trang phục. Những tên gọi này thường không phải tên tự gọi của mỗi nhóm, mà là do dân tộc lân cận hoặc các nhóm khác của người Nùng đặt ra, ví dụ: Nùng Khen Lài (ống tay áo đáp vài khác màu), Nùng Hu Lài (đội khăn chàm có những đốm trắng), Nùng Slử Tin (mặc áo ngắn chỉ chấm mông) v.v…

b) Những tên gọi theo địa danh, nơi mà từ đó học di cư tới Việt Nam, ví dụ: Nùng An (từ châu An Kết), Nùng Inh (từ châu long Anh), Nùng Phản Slình (từ châu Vạn Thành), Nùng Cháo (từ Long Châu, Nùng Quý Rịn (từ châu Quy Thuận), Nùng Lòi (từ châu Hạ Lôi)…

Ngoài ra còn có các nhóm mà xuất xứ tên gọi của chúng ta chưa thể xác định được, như Nùng Dín, Nùng Xuồng, Nùng Tùng Xìn, Nùng Viền, Nùng Chủ v.v…

Rất có thể trước kia số nhóm địa phương còn nhiều hơn, nhưng đã mai một đi do các nhóm đó cố kết lại, hòa vào nhau. Có thể sau này con số các nhóm giảm xuống nữa. Nhưng điểm đồng nhất là chủ yếu, còn những khác biệt chỉ có tính chất địa phương, thường biểu hiện trong các chi tiết nhỏ. Điều đó cũng thể hiện trong các tên gọi của từng nhóm; danh từ Nùng luôn luôn như là tiền từ của các tên gọi các nhóm địa phương.

Đối với các tộc người nằm trong điều kiện kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp và sự cố kết nội bộ còn thấp, thì không sao tránh khỏi những khác biệt có tính chất khu vực. Nhưng nét này chỉ làm cho cái chung thêm phong phú, đa dạng mà thôi. Trong điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày càng gia tăng; tên gọi các nhóm địa phương đang dần biến đi, sẽ chỉ còn tộc danh Nùng. Đồng thời các quan hệ vốn có với người Tày sẽ trở nên bền chặt hơn, làm cho cả hai dân tộc này càng thêm xích lại gần nhau.Kinh tế và văn hóa vật chất

Người Nùng là cư dân nông nghiệp, họ canh tác ruộng nước một cách thành thạo, tương tự như người Kinh, người Tày. Thế nhưng, hoàn cảnh cư trú, khiến người Nùng không thể chỉ sống bằng nông nghiệp ruộng nước. Nương và rẫy đối với họ còn có một vai trò quan trọng.

Cũng như các dân tộc lân cận, kỹ thuật làm rẫy của họ còn lạc hậu, thô sơ, Nhờ kinh nghiệm đã tích lũy bao năm ròng, nên việc chọn rừng, đất làm rẫy đối với họ chẳng khó khăn mấy. Rừng già nhiều cây to, rừng nứa um tùm luôn luôn được chọn làm rẫy trồng lúa và ngô. Đồng bào thường khởi công phát dọn khi tiết cốc vũ, thanh minh vừa tới, khi Bióoc mạ (1), hoa mộc miên đã nở. Nhờ có rìu sắc, dao bén mà người ta có thể hoàn thành công việc đó một cách nhanh chóng. Tháng tư, đầu tháng năm âm lịch rẫy được đốt dọn; sau những trận mưa rào làm ẩm, mềm đất, đồng bào bắt đầu trồng trỉa.

Trên rẫy, chủ yếu trồng lúa nếp. Xa xưa họ cũng phổ biến cách thức chọc lỗ tra hạt, nhưng gần đây họ thường gieo trồng bằng cách vãi hạt giống, Khoảng

một tháng sau khi gieo trồng, người ta bắt đầu làm cỏ. Nhưng vì lúa mọc chi chít, nên đồng bào đành làm cỏ bằng tay, mặc dù cũn có các loại công cụ như cào, cuốc bướm, nạo v.v… Trong các đám rẫy trồng lúa, ta thấy lác đác các đám rau cải mùa hè, các loại dưa, bầu bí, đỗ…, những thứ này thu hái về ăn dần trong các thời kỳ chăm sóc rẫy.

Cuối tháng chín đầu tháng mười họ bắt đầu gặt bằng chiếc hái nhắt, vì liềm hái ít có tác dụng khi lúa không trồng thành từng hốc.

Loại nương rẫy canh tác thưo lối này thường phải hưu canh sau hai, ba vụ gieo trồng, khi rẫy bạc màu thì đành bỏ hẳn. Chỉ có thể khai thác trở lại sau mươi, mười lăm năm là lúc rừng đã phục sinh, độ phì của đất đã tăng lên.

Dựa vào rẫy, đời sống không ổn định đựơc, sinh hoạt thường bấp bênh. Cũng may thay, đồng bào làm rẫy chỉ là nghề phụ, nhằm tăng thêm nguồn lương thực, thực phẩm mà thôi.

Loại rẫy vừa kể, chỉ đứng vào hàng thứ ba, sau nương (thổ canh) và ruộng nước. Điểm nổi bật nhất cảu loại thổ canh là có thể thâm canh lau dài được. Trong những thung lũng hiếm nước, đồng bào khai phá thành từng khoảnh, đắp bờ giữ đất màu. Với nương thổ canh này kỹ thuật canh tác tiến bộ hơn, chẳng kém gì kỹ thuật tưới nước. Đồng bào dùng cày bừa với sức kéo trâu bò để làm đất; biết cày ải vào mùa đông; biết chọn độ ẩm thích hợp để cày bừa được nhanh chóng, dễ dàng. Loại này sở dĩ thâm canh được là nhờ chăm bón. Có nơi đồng bào đã bón 12 tấn phân cho một hécta nương hay hơn nữa. Nguồn phân chủ yếu là phân chuồng do chăn nuôi nhiều trâu bò, lợn gà; tro bếp, tưới nước tiểu. Phân xanh còn ít được dùng, gần đây được dùng nhiều hơn. Sau khi đã ủ kỹ và thường trộn với phân chuồng, có khi cắt cỏ lá bỏ luôn vào chuồng trâu bò, vài ngày sau đã thành phân.

Để tăng màu cho đất, ngoài cách bón phân, đồng bào còn trồng đỗ”nho nhoe” xen với ngô. Cứ một hécta ngô người ta tròng 15 – 20% kg giống đỗ. Cây đỗ này lan nhanh, khi ngô ra bắp nó có thể đã phủ khắp mặt nương. Thu hoạch ngô xong, cây đỗ cũng bắt đầu mục dần, nó có tác dụng bồi bổ chất màu, giữa độ ẩm cho đất, kìm hãm sự phát triển các loại cỏ dại. Kinh nghiệm cho thấy đất thổ canh trồng thứ đỗ này sẽ tươi xốp, dễ cày bừa…

Cây trồng chủ yếu trên nương thổ canh là ngô, mạch ba góc và phần nào là kê. Cách thức trồng ngô của người Nùng cũng giống người Tày và các dân tộc cộng cư với họ. Trước khi trồng trỉa, đất được cày bừa kỹ, làm luống và được bón lót bằng phân chuồng hay tro hòa nước tiểu. Hầu như họ chỉ vun xới một lần vào lúc ngô cao chừng 30 – 40 cm, tức khoảng tháng ba, tháng tư âm lịch. Mọi việc được chẩn bị từ mùa đông và gieo trồng trước hoặc sau tiết kinh trập vài ngày.

ở nhiều nơi, đồng bòa trồng ngô vụ thu. Thường diện tích trồng ngô vụ này ít hơn, vì nương còn trồng các loại hoa màu khác như màu khác như lạc, khoai, đỗ v.v… Ngô vụ thu trồng vào tháng sáu, tháng bảy, thu hoạch vào tháng Mười, tháng một âm lịch.

Diện tích các loại kê không đáng kể. Nhưng mạch ba góc thì lại rất phổ biến, mỗi năm trồng hai vụ: thu đông và xuân hè. Mạch ba góc được trồng trên nương và ruộng, vụ thu đông trồng vào tháng chín, thu hoạch vào tháng chạp; vụ xuân hè trồng tháng giêng và thu hoạch khi tiết thanh minh tới. Do đó, giảm bớt được khó khăn trong những ngày giáp hạt.

Đồng bào còn trồng ngô, kê trên các sườn núi đá. Đó là loại hình canh tác thổ canh hốc đá. ở đây cũng có thể chỉ trồng bông, chàm, tre, cây lấy gỗ, lấy củi v.v…

Các loại rau như củ cải, su hào, bắp cải, hành, kiệu,… trồng trong các mảnh vườn nho nhỏ cạnh nhà hoặc trên nương, trên soi bãi, cung cấp phần nào thực phẩm cho đồng bào Nùng.

Còn ruộng nước, thì người Nùng cũng canh tác như các dân tộc tương cận. Họ dùng các hình thức tưới nước nhân tạo ở miền núi, như đắp đập, phai; đào mương khơi máng; dùng con nước khi có điều kiện. Các khâu cày bừa, làm cỏ, bón phân, chăm sóc… đều kỹ lưỡng.

Với luân canh, xen canh gối vụ đất chẳng bao giờ được nghỉ, nhưng luôn được bổi bổ bằng các nguồn phân ngày càng tăng lên, nên đã đủ nuôi sống đồng bào, mặc dù dân số của họ hàng nưm tăng lên trên 3%.

Chăn nuôi gia súc là nghành hoạt động sản xuất đã khá phát triển, nhưng chưa bao giờ có bộ phận tách ra để chuyên nghề này. Tuy có nhiều đồi, bãi cỏ, nhưng núi cao và dốc, lại thêm mưa nhiều, nên việc chăn nuôi trâu bò đàn khó thực hiện trong điều kiện sản xuất cá thể. Cho nên, thường mỗi gia đình chỉ nuôi dăm ba con trâu hoặc bò nhằm đáp ứng nhu cầu sức kéo. Những gia đình khá giả, nhiều lao động có thể nuôi hàng chục con hoặc hơn nữa, lúc ấy họ chọn một thung lũng chung quan có núi đá, sẵn cỏ, nước, cây cối để che mưa nắng, rào lối đi, rồi đem trâu bò thả tại đó, khi cần mới lùa về. Đồng bào cũng nuôi nhiều lợn, gà , vịt, dê… Một vài giống lợn có tiếng như lợn Lạng Sơn, lợn đen Mường Khương… Việc chăn nuôi gia cầm nhằm thỏa mãn phần nào sinh hoạt hàng ngày, lễ tết, hiếu hỉ. Nhiều nơi đồng bào còn thả cả ruộng, vừa làm sạch ruộng, vừa cải thiện được bữa ăn.

Các nghề thủ công, tuy là những nghề phụ gia đình, những đã khá phát triển. Nổi bật nhất trong các nghề thủ công là nghề trồng bông, chàm, kéo sợi, dệt vải, ruộm vải. Đây là công việc của phụ nữ. Trước kia, chẳng mấy gia đình người Nùng không có khung cửi, nhiều khi dưới một mái nhà, có bao nhiêu cô gái thì có bấy nhiêu khing dệt. Nghề kéo sợi dệt vải đặc biệt phát triển ở vùng Quảng Hòa (Cao Lạng). Tại đấy, gần đây đã có người tạo ra được một loại máy, tuy thủ công, nhưng có thể cán bông, bật bông kéo sợi, dệt vải với chất lượng khá cao. Đi đôi với trồng bông dệt vải đồng bào rất chú trọng trồng chàm để lấy phẩm nhuộm.

Đối với đồng bào Nùng rèn đúc là nghề quan trọng, có từ lâu và sản phẩm của nó không những được đồng bào Nùng phát triển rất cao, nhất là ở Nùng An. ở xã Phúc Xen (huyện Quảng Hòa, Cao Lạng) có 356 hộ, mà có tới 123 gia đình làm nghề rèn, đúc, phân bố trong 28 lò rèn hoặc lò đúc, hàng năm tiêu thụ tới mấy trăm tấn sắt gang. Họ rèn đủ các loại dụng cụ, từ cái búa, cái rìu, con dao, cưa, đục, dùi, bào, kéo, cho tới lưỡi cuốc, cào, mai, xẻng... đúc lưỡi cày… đúc các loại nồi, soong, chảo v.v…

Người Nùng rất khéo léo trong việc đan những chiếc sọt, dậu, những tấm cót, chiếu và các đồ đựng. Sản phẩm của họ đạt tới một trình độ cao về cả hai phương diện: công dụng và thẩm mỹ. Sau mỗi vụ gặt, người ta đi các ngả để xẻ gỗ thuê và chỉ trở về trước tết Nguyên đán. Thợ xẻ thường cũng biết làm nhà, nhưng công việc này vốn có những người thợ chuyên môn riêng. Với kỹ thuật khá điêu luyện, họ xây cất nhà khá nhanh, lại đẹp nữa.

Để phục vụ nhu cầu học hành, cúng bái v.v… người Nùng có một bộ phận chuyên làm giấy. Vật liệu là các loại vỏ cây, vầu nứa. Với điều kiện thủ công, họ đã sản xuất được các loại giấy khác nhau.

Ngoài ra, còn có thể kể thêm vài nghề nữa, nhưng không phổ biến lắm, như làm vôi, gạch, ngói…

Nhìn chung, các nghề thủ công ở người Nùng khá đa dạng, sản xuất đủ loại nhu yếu phẩm, trừ muối ăn, không những phục vụ cho dân tộc mình mà còn cung cấp cho bà con các dân tộc sống trong vùng. Tuy nhiên, tất cả những hoạt động vào những lúc rỗi rãi, có đủ nguyên vật liệu. Bản thân người thợ giỏi đồng thời là người nông dân cần cù và giàu kinh nghiệm.

Tùy theo từng vùng, săn bắn, hái lượm và đánh cá có vai trò khác nhau. Nhìn chung, đánh cá không phát triển lắm, vì phần đông cư dân Nùng cư trú ở các thung lũng khô cạn, ít ao hồ, sông suối. Tuy nhiên, nơi nào có điều kiện, họ cũng tỏ ra là những tay đánh cá sành sỏi. Họ đánh cá bằng mọi hình thức, kể cả thốc độc, bằng mọi dụng cụ, từ các loại đơm, đó, rọ, lưỡi câu cho tới các loại vợt, chài, lưới… Săn bắn còn được duy trì phần nào vì nhu cầu bảo vệ mùa màng, phần vì cải thiện bữa ăn. Bắn được các loại hổ, báo, gấu, sơn dương, khỉ…, không những cung cấp thịt lại còn được xương để nấu cao. Cao hổ cốt, cao khỉ, sơn dơng… là những vị thuốc đứng hàng đầu bảng danh mục các vị thuốc chữa bệnh dân gian. Hái lượm với tính cách là một hình thái kinh tế đã mất hết ý nghĩa với người Nùng; công việc đó chỉ thu hẹp lại trong việc thu hái các loại rau rừng, nấm, măng, các loại hoa, quả v.v… để bữa ăn thêm ngon lành. Ngày nay được Nhà nước khuyến khích, việc thu hái lâm thổ sản được mở rộng và đẩy mạnh, làm tăng thêm thu nhập của các gia đình.

Người Nùng ưa thích sống quây quần với nhau thành từng chòm xóm với qui mô ít thì dăm ba nhà, nhiều thì vài chục nóc. Thôn bản thường được dựng trên các sườn đồi, chân núi; có bản ở ngay trong các dọc khe hoặc trải rộng ra trên bãi bằng, dọc theo sông suối. Nhà cửa trong thôn bản được sắp xếp theo địa thế. Trước kia, khi còn làm ăn cá thể, người Nùng thường dựng nhà ngày cạnh khoảnh ruộng của mình để tịên cho việc đi lại, sản xuất, giữ gìn, bảo vệ ruộng nương, thêm nữa cũng bồi bổ chất màu cho ruộng vườn. Đường đi lối lại trong chòm xóm thường nhỏ hẹp, lắm lúc chỉ là những lối mòn nối liền các nóc. Quanh nhà thường trồng dăm ba cây lê, mận, đào hoặc cam quít, hoặc vài khóm chuối. Chen vào giữa các nóc là những mảnh vườn nho nhỏ, trồng rau.

Hoặc gia vị. Cạnh nhà ở có thể còn có những túp lều, tại đấu ngường ta làm đủ thứ: đan lát, rèn giũa, vv… nay còn thêm các cuồng trại gia súc nữa. Những nơI sinh hoạt công cộng của chòm xóm thì chỉ có bến nước, miếng thờ thần thổ địa, thổ công mà hàng năm người ta vài lần tề tựu để tế lễ. Trông những năm xây dựng hợp tác xã nông nghiệp, trong các cư điểm còn mọc lên nhà kho, nhà giữ trẻ, lớp mẫu giáo, phòng họp, có khi có cả trạm xá nữa.

Trên những nét cơ bản, nhà cửa người Nùng tương tự nhà cửa người Tày. ở họ có cả nhà sàn lẫn nhà đất, cũng có cả loại nhà nửa sàn nửa đất nữa. ở một số địa phương, người ta xây cất kiểu nhà mà tường bằng đá hoặc tường đất. Để xây tường đá được vững chắc, đồng bào đã bết làm lên chắc chắn, cột kê trên đá tảng. Còn những nhà sàn cột chôn thẳng xuống đất thì nay bắt đầu hiếm.

Nhìn chung nhà cửa của người Nùng khá to rộng, thường là ba gian, rộng tới 9-10 met, dài 12-13met. Kiểu nhà này chỉ có hai mái ;ở nhiều nơI dồng bào còn làm hai cháI nhà nữa. ở vùng núi đá, đồng bào thường ding các loại gỗ trai, nghiến để dung khung nhà với một hệ thống xuyên xà, được bào trơn, đóng bén. Với khung nhà rộng như kể trên, thì tổng cột trên dưới 40. Số lượng kèo, xà, xuyên,đòn tay, rui vv…lại còn nhiều hơn nữa, phảI tốn nhiều công sức để chuẩn bị. Với căn nhà được xây cất vững chắc, lại bằng gỗ tốt, có thể vài ba thế hệ sống tiếp nhau dưới một máI nhà. Muốn vậy nhà phảI lợp ngói mà họ tự làm lấy được. Xưa họ thường làm bằng ngói máng, nay ngói “Đáp Cầu” cũng đang dần phổ biến.


DÂN TỘC NÙNG ..còn tiếp

thanhruoi
06-09-2008, 03:06 PM
Nhà sàn là loại nhà phổ biến cả người Tày và người Nùng. Cách đây ít lâu, nó còn là loại nhà sàn “tổng hợp” người ở trên sàn cách mặt đất trên dưới 180cm, gầm sàn chính là chuồng gia súc, gia cầm vv…Còn trên gác thường ding làm nơI chứa nông phẩm, nông cụ. Dụng cụ gia đìnhv.v…Cho nên ngoài căn nhà ở trên, hiếm có các kiến trúc phụ. Tình trạng ấy nay đang dần biến đổi. Trước hết, chuồng gia súc đựpc tách ra khỏi nhà ở, do đó quanh nhà ở còn có các kiến trúc phụ ;gầm sàn nhà ở còn trở thành nơI cất trữ nông cụ,củi đuốc, các loại cối xay, cối giã…Nhà ở thêm phần thoáng mát.

Nhà đất thường phổ biến ở vùng biên giới và các trục giao thông. loại nhà này nhỏ hơn nhà sàn. tường nhà được chình bằng đất sét hoặc bằng gỗ mộc, có nơI xung quanh nhà được bưng ván, có khi được che bằng liếp. Loại nhà trát vách đất ở người nùng cũng có, nhưng rất ít ;ngày nay do hiếm gỗ nên laọi nhà đất càng phổ biến và việc lợp bằng lại càng phổ biến rộng rãi hơn.

Trên nhưnngx nét cơ bản, cách bố trí bên trong các loại nhà đều giống nhau. Tuỳ địa phương, nhà có thể mở cửa chính đầu hồi hoặc ở đằng trước (ở gian giữa), cửa này thông ra sàn phơi, người ta lên xuống bằng chiếc thang gỗ (hoặc đá) bắc lên sàn. Nhà được ngăn ra làm hai phần rõ rệt, vách ngăn nằm ngay ở hàng cột chống lên tận nóc, chỉ để mộ lối thông giữa hai phần, tạm gọi là phần trong và phần ngoài. Phần trong có thể có hai bếp để nấu nướng và để nấu thức ăn cho gia súc, có chỗ để các đồ dụng, dụng cụ nấu ăn, có chỗ để ăn uống, và buồng ngủ của phụ nữ. Phần ngoài có bàn thờ tổ tiên, đặt tại gian giữa, thẳng từ nóc nhà xuống, cao bằng xà nhà, trước bàn thờ có bịch thóc(khoọc khẩu) hoặc bộ bàn ghế dùng để tiếp khách. Còn chỗ ngủ của những đàn ông kể cả chủ nhà, đều ở hai gian bên. Khách, nếu là nữ, ngủ ở phần trong, là nam ngủ ở phần ngoài. Đối với nhà đất bếp không đặt tại chính giữa nữa, thường được đặt lùi vào một trong hai góc nhà thuộc phần trong. Hiện nay, phần nhiều người ta làm nhà bếp riêng. Do mọi mặt đời sống tong bước được cải thiện, sự bố trí bên trong nhà có phần hợp lí hơn, khang trang hơn.

Phụ nữ Nùng ăn mặc tương tự phụ nữ Tày. Họ mặc áo năm thân cài cúc sang nách phảI, độ dài hay ngắn tuỳ theo thói quen của từng nhóm ;nhìn chung ngắn hơn áo Tày. Khác với Tày, ống tay áo được đáp thêm những miếng vảI màu nhạt hoặc đậm hơn màu áo. Cổ áo của tất cả các nhóm nùng đều là cổ đứng. Hầu như quần áo của họ cũng y hệt quần áo người Tày, không thêu thùa, trang trí hoa văn. Mặc áo thường phải có thắt lưng, là những tấm vải nhuộm chàm, dài tới hai sảI tay của người dùng. Hai đầu dây lưng được vắt lại với nhau và buông thõng sau lưng.

Hầu như phụ nữ nùng không mặc váy. Cũng như quần của nam giới, quần phụ nữ thuộc loại quần tả, ống rộng, cạp rộng, dài tới mắt cá.

Kiểu áo đàn ông Nùng cũng they ở nhiều dân tộc khác ở miền Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc. Đó là chiếc áo cổ đứng xẻ ngực,có khuy bằng vải gọi khót mắc xâu. áo thường có bốn túi không nắp, chỉ nam giói Nùng An mặc áo năm thân, nhưng cúc không cài hẳn sang tận nách phảI mà ngay ngực bên phảI, dài chem. Ngang hông. Nhưng ngày nay cũng có nhiều người Nùng An mặc áo ngắn,cùng kiểu với các nhóm khác.

ở nhiều nơI cả đàn ông và đàn bà đều deo chiếc yếm vải hình tròn hoặc bầu dục do nhiều lớp vảI khâu lại với nhau, viền quanh vải đỏ hoặc xanh, dùng để đệm vai khi gánh gồng.ở nhiều nhóm, mỗi khi làm việc, đàn bà cũng như đàn ông, đều đeo tạp đề(vì cùn) là một tấm vải vuông dài quá gối có dây buộc chặt ở bong.

Sau Cách Mạng Tháng Tám, tại các vùng xen ghép nhiều dân tộc, phụ nữ, nhất là thanh nữ, chuyển sang mặc áo cánh, nam giới mặc âu phục ngày càng nhiều. Tuy nhiên trong các dịp hội hè, tết nhất, cưới xin…đồng bào vẫn phục sức theo kiểu dân tộc cổ truyền.

Phụ nữ Nùng ở Cao Lộc (Cao Lạng) đội đầu bằng chiếc khăn dệt hoa, khi đội thì quấn theo kiểu khăn xếp. ậ vùng nam Cao Lộc, Chi Lăng, phụ nữ lại trim đàu bằng một cáI khăn vảI chàm có đốm trắng. Còn ở các nơi khác, họ đội khăn như phụ nữ Tày. Đàn ông, trước đây búi tóc, nay cắt ngắn tóc, mùa rét đội mũ vải.

Đồng bào Nùng ưa thích đồ trang sức bằng bạc. Phụ nữ thường đeo vòng cổ, vòng tay, vòng chân, dây chuyền, xà tích. Đàn ông thường chỉ đeo vòng tay nhẫn. Người già và trẻ em ít đeo đồ trang sức, nếu có đeo vòng tay, vòng cổ chẳng qua là họ tin những vật kị ma.

Giống như nhiều dân tộc anh em khác, đồng bào ăn cơm tẻ là chủ yếu. Họ cũng thường ăn cháo, nấu đặc. ở nhiều vùng, ngô chiếm một tỉ lệ đáng kể. Cháo bột ngô nấu dặc như bánh đúc cũng được phổ biến ở họ. Cơm, cháo độn ngô xay nhỏ cũng là thường thấy. Ngoài thức ăn bằng thực vạt mà họ trồng hoặc hái ở rừng, thịt cá cũng được sử dụng, nhưng hãy còn chiếm một tỉ lệ thấp. Các thức ăn được xào rán, ít khi luộc. Đồng bào ít ăn thịt trâu bò. Trong các dịp tết lễ ở họ cũng có các loại bánh chế biến từ gạo nếp như ở người Tày. Mười hai tháng trôi di với mỗi mùa một loịa bánh trái theo tập quán. Ngày nay chè được sử dụng rộng rãI hơn, khi đồng bào đã bỏ thói quen uống nước lã. Rượu được dùng rộng rãI nhất là trong các đám cưới, lễ vào nhà mới, các tết…Xưa kia đồng bào trồng một thứ lúa nếp riêng để nấu rượu gọi là khẩu lẩu. Ngày nay, nghành thương ngiệp quốc doanh đem các sản phẩm khác như hải sản, từ các nơi khác đến khác đén với họ, khiến trong thành phần thức ăn của họ có những biến đổi nhất định, thêm phần phong phú và đa dạng. Đồng thời, những hủ tục kiêng khem trong ăn uống đã và đang bị gạt bỏ dần dần.

Quan hệ xã hội, hôn nhân, gia đình

Nhiều tài liệu đẫ chứng tỏ vào thời trung, cận đại, các quan hệ phong kiến đã phát triển trong xã hội người Nùng. Khi đến Việt Nam, chịu sự chi phối của các triều đình phong kiến Việt Nam, chế độ phong kiến trung ương tập quyền, các quan hệ phong kiến thêm củng cố và phát triển. Từ khi thực dân Pháp đặt được ách thống trị trên toàn cõi Việt Nam, thì xã hội của người Nùng, cũng như xã hội của nhiều dân tộc an hem khác của nước ta, là xã hội theo chế độ nửa thực dân nửa phong kiến.

Vào lúc người Nùng đặt chân tới Việt Nam, thì núi còn nhiều nơi hoang dã, không thuộc về ai cả. Nhưng khi đã trở thành những đám ruộng, nương thổ canh thì lập tức nó thuộc về người khai phá nó. Ngoài ra đồng bào Nùng còn nắm trong tay một số ruộng và nương thổ canh bằng con đường mua bán với các dân tộc tương cận. Đã từng có một số trường hợp một số gia đình cùng góp tiền bạc để mua từng bãi, những thung long (ở người Tày) để khai khẩn thành ruộng nương. Có thể lúc đàu họ là những người chiến hữu, có quyền sử dụng và hưởng hoa lợi. Thế nhưng ruộng đất cứ truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác mà chẳng có sự điều chỉnh, lại càng không có sự phân phối bình quân định kì. Gia đình nào càng nhiều lao động, càng khai phá được nhiều, càng có nhiều tiền bạc càng tậu được nhiều ruộng nương. TráI lại, những gia đình neo đơn, ruộng nương đã ít lại được phần xấu. Như vậy, vốn ruộng đất, chẳng hạn trong thung long, dần dần được cố định lại, nhưng người thì sinh sôI nảy nở tăng dần lên, và mức bình quân ruộng đất cứ giảm dần theo thế hệ.

Cho nên ngay từ đầu, tính chất bình dẳng trong quan hệ chiếm hữu ruộng đất đã lộ rõ. Nhưng nó được đẩy mạnh và sâu sắc khi các hình thức bóc lột tăng thêm với mức độ nặng nề thêm. Nên hai cực giàu và nghèo của xã hội Nùng đã kéo cư dân về hai phía, nhưng cái cực nghèo ngày càng thêm phình to ra với tốc đọ ngày càng thêm nhanh. Họ mất dần những thửa ruộng, đám nương, vì nghèo khổ mà phảI cầm cố và bán. Ruộng đất được bán dưới hai hình thức :bán đứt và bán với quyền chuộc lại. Thực tế chẳng mấy khi chuộc lại được số ruộng đã bán. Ngoài ra, ruộng đất còn chuyển từ người này sang người khác bằng con đường đem tặng ;ruộng nương của những gia đình tuyệt tự thường trao đổi cho họ hàng bà con thân thích ; những gia đình chuyển cư cũng đem ruộng đát trao cho an hem hoặc bán đi.

Thế là ruộng đất từ chỗ không phảI là của riêng ai cả, nay bắt đàu có chủ, được mọi thành viên của thôn bản chấp nhận. Lúc đầu thì tuỳ ý chiếm lấy, về sau thì có thể đem bán, trao đổi, tặng nhau, đem làm vật cầm cố, trở thành tài sản thừa kế gia đình. Nương thổ canh cũng ở tình trạng tương tự như ruộng. Sau khi khai phá và được canh tác thuần thục, nó cũng biến thành tài sản tư hữu.

ở họ cũng có hiện tượn xâm canh. Đương nhiên, những hiện tượng này là do mua bán hoặc cầm cố. Những ruộng xâm canh của người Nùng thường nằm trong các bản người Tày , có khi ở cách rất xa nơI họ cư trú, đến vụ họ mới dung lều lán tại đó đẻ cầy cấy và gặt đập, công việc của họ xong xuôI họ trở lại bản quán.

Đó là quan hệ sở hữu đối với ruộng nương thâm canh. Còn đối với loại nương rẫy phát ở rờng với ph]ơng thức canh tác thô sơ lạc hậu thì quyền chiếm hữu thuộc về người khai phá chỉ trong thời gian canh tác. Khi hưu canyh nó trở thành đất hoang. Nhưng ai muốn làm rẫy trên miếng đất trước đã có người khai thác thường phảI được phép của người chủ trước, xem thế đất hưu canh mà trên đám rẫy thường mọc rừng vầu, mai, chuối rưng…thì chắc chắn nó thuộc về người khai phá đầu tiên, gia đình này vẫn giữ gìn bảo vệ nó, tuy chẳng tốn mấy công. Trước Cách Mạng Tháng Tám tại nhiều địa phương, một số núi đồi, khe dọc gần nhà thường được phân chia từng khoảnh giữa các gia đình để làm của riêng, tại đay người ta trồng đủ các loại :truc, sở, lai, chuối rừng để chăn lợn, mai, vầu, các loại cây ăn quả, chè…Người Nùng An ở Quảng Hoà(Cao Lạng) mỗi gia đình thường chiếm riêng một quả núi ở gần xóm để bảo vệ hoặc trồng thêm cây cối để đốt lấy than phục vụ lò rèn , lò đúc.

Tuy vâỵ, đất hoang rừng vắng nhất là những nơI xa bản, hãy còn vô số, có thể tuỳ ý khai phá, trừ những nơI mà họ cho có thánh thần ngự trị. Những đồi trọc, đồi cỏ … là bãI chăn nuôI trâu bò, de ngựa… chung của các gia đình trong bản . Sông suối thật sự là cảu chung của cac sthành viên trong xóm thôn, ai cũng có thể đánh cá mò cua bắt ốc…

Cùng với những biến động trong quan hệ sử hữu ruộng đất, còn có những biến chuyển trong quan hệ giữa người với người nữa. Xã hội Nùng đã bỏ xa giai đoạn mới phân thành kẻ giàu người nghèo, tiến lên một bước cao hơn, hình thành rõ rệt các giai cấp ; địa chủ, phú nông và nông dân.

Số địa chủ người Nùng không nhiều và số ruộng đát chúng chiếm đoạt cũng không lớn lắm. Theo tài liệu của Uỷ ban dân tộc trung ương, thì trong người Nùng địa chủ chỉ chiếm 1-2 % dân số với khoảng 10% ruộng đất.Hầu như không có những doịa chủ, thường chỉ có địa chủ nhỏ với khoảng từ 10 đến 20 mẫu ruộng. Địa chủ thường tự canh tác một phần ruộng đất. Phần còn lại đem phát canh thu tô. Số ruộng này, ở nhiều nơi, gọi là nà tó còn ( ruộng mỗi người một nửa), người phát canh và người lĩnh canh thoả thuận với nhau chia đôi thành quả. Như vậy tô là tô sản phẩm với mức 50%. Nà tó còn thường là ruộng xấu, năng suất thấp. Sở dĩ như vậy là vì người lĩnh canh thường không làm chủ được kế hoạch sản xuất, không biết trước lúc nào chủ sẽ thu lại, nên ít cố gắng chăm bón. Thoả thuận mỗi người một nửa, nhưng bất cứ trường hợp nào, người nông dân cũng đều bất lợi, vì ngoài coong sức còn phải có sức kéo, nông cụ, giống….

Bên cạnh việc phát canh thu tô, địa chủ cũng thường thuê trâu bò với mức tô bằng thóc hoặc ngô nhất định. Chẳng hạn ở một số nhóm Nùng ( Cao Lạng) tô trâu là 10 gánh thóc hoặc ngô hột một năm( mỗi gánh khoảng 30 kg). Ngoài ra một số địa chủ còn cho vay tiền lấy lãi, lãi suất thường là 10% hàng năm.

Bọn điạ chủ còn thuê mướn người làm tong việc, tong vụ, như cấy gặt, cày bừa, nhổ mạ vv…; lợi dụng truyền thống rương trợ của nông dân phục vụ lợi ích của mình. Lác đác có người thuê người ở, làm các công việc vặt ngư lấy củi, đuốc, cám lợn, xay giã, thổi nấu, chăn trâu bò…

Trước Cách mạng Tháng Tám và trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, một số điạ chủ, nhất là ở Hoàng Liên Sơn, đã câu kết với bọn thực dân xâm lược, vừa áp bức bóc lột nông dân theo lối của bọn địa chủ, vừa làm giàu bằng con đường buôn bán, có những tên có cả ô tô riêng, thuê máy bay Pháp để làm việc này.



DÂN TỘC NÙNG ..còn tiếp

thanhruoi
06-09-2008, 03:10 PM
Tần lớp đông đảo nhất là trung nông, và bần nông. Họ chiếm tới 95% dân số và nắm trong tay khoảng 80 -90% ruộng đất. Những gia đình khá giả có thể có tới vài ba mẫu ruộng. ít cũng có trên dưới một mẫu. Không hiếm những gia đình trung nông nuôi hàng máy choc trâu bò. Phổ biến hơn là ngững gia đình thiếu đói, có khi kéo dài tới ba, bốn tháng, thương phải mua ruộng đất ở nơi xa, thường phải cấy rẽ nộp tô, hoặc phải phá rừng làm rẫy.

Giữa người nông dân lao động với nhau, quan hệ chủ yếu là thương yêu, đùm bọc lẫn nhau. Tuy vậy, nhiều nơi trong việc tương trợ hình như đã bị tiêm nhiễm về lãi suất mà có thể xưa kia không hề có. Hoàn lại vốn, người vay không quên trả thêm 10% nhưng không tính thời gian vay dài ngắn bao nhiêu.

Tần lớp cố nông hiếm they trong người Nùng. Dù nghèo khổ đến mấy ít mấy ai chịu làm phận con ở ( nếu không kể những vùng còn có chế độ quằng, thổ ty người Tày; tại đấy bất cứ ai, thuộc bất cứ dân tộc nào, đã cư ngụ trên phạm vi cai quản của chúa đất, thì họ phải chịu làm lục rườn…( xem thêm phần: Dân tộc Tày), trừ những người vì nghiện hút, rượu chè, cờ bạc…sa vào bước đường cung, phải làm thuê, bất kể công việc gì, nhưng số người này cũng không nhiều lắm.

Trước Cách mạng Tháng Tám đã xuất hiện những người làm nghề uôn bán, nhưng ít người buôn chuyến to, những người này chưa trở thành một tầng lớp riêng trong xã hội, bởi vì gia đình họ vẫn bám vào nghề nông; càn buôn bán chỉ làm tăng thêm thu nhập gia đình. Lác đác đã có những gia đình ra ở thị trấn, chợ, sinh sống bằng con đường buôn bán. Trong thôn xóm đôI khi có trao đổi sản phẩm không thông qua vật ngang giá, mà trực tiếp hàng lấy hàng.

Tần lớp thợ thủ công chưa hình thành hẳn, họ vừa là nông dân, vừa là những người thợ tạo ra các loại sản phẩm lúc nông nhàn, thương làm theo đơn đặt hàng… Chỉ có một số tí thường là những người làm nghề rèn đúc, nghề kim hoàn đã chuyển cư ra các chợ, thị trấn hoàn toàn tách khỏi nông nghệp. ở các ngề giữa các xóm, giữa các gia đình. Sự phân công hầu như hoàn toàn mang tích chất tự phát.

Mỗi nghề đều có cách thức tổ choc sản xuất nhất định. Chẳng hạn thường thường mỗi lò rèn, lò đúc gồm từ ba đến năm người trực tiếp rèn đúc, lại thêm một người chuyên tìm kiếm nguyên vật liệu. Còn than thì mỗi người tự sản xuất lấy. Mỗi nhóm sản xuất dưới sự điều khiển một người thợ cả giầu kinh nghiệm, tay nghề thành thạo. Lò rèn, lò đúc được dụng ngay cạnh nhà thợ cả. Sản phẩm lao động được chia đều, trừ người chủ trong một ngày lao động dược thêm một hoặc hai đơn vị sản phẩm, còn việc tiêu thụ sản phẩm thì tuỳ ý mỗi người.

ở người Nùng số người làm nghề cúng bái( mo, then, tao…) khá đông. Riêng một xã Phúc Xem ) Quảng Hoá, Cao Lạng) trong số 269 họ thì đã có 28 gia đình có người làm nghề cúng bái. Nhưng họ cũng thuộc tần lớp nông dân lao động. Cũng tham gia sản xuất; sang không phảI chủ yếu dựa vào nghể cúng bái. Lớp người này nhiều khi còn là thầy thuốc chữa bệnh theo kiểu dân gian. Cũng có thể không ít người là nghệ nhân dân gian, thầy đồ dạy chữ Hán, chữ Nôm nữa. Về phương diện nào đó họ gần như là trí thức của dân tộc.

Trước kia, hầu như không một ai nắm cấc choc vụ chính quyền tỉnh, mà ngay ở cấp châu huyện cũng rất hiếm. Nhưng ở các cấp chính quyền tổng, xã, thôn thì tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể, nhất là tuỳ thuộc vào tỷ lệ số dân các dân tộc, mà những chức vụ như chánh phó tổng, chánh phó lý, tổng đoàn, xã đoàn, trương tuần, trưởng thôn có thể nắm trong tay người Nùn

Thời kỳ các quan hệ công xã trị vì đã lùi xa, nhưng dấu vết của nó hãy còn, dù rất mờ nhạt. Trong quan hệ ở các chom xóm, họ thường gắn bó với nhau băng các tập tục, truyền thống hữu ái, tương trợ nhau trong sản xuất và đời sống. Con có những tổ chức hội, phe phường với mục đích trợ giúp nhau khi có việc hiểu hỉ. Gia nhập tổ chức đó, phải tuân theo những quy đình, kể cả lượng đóng góp lương thực, thực phẩm. Sự gắn bó các thành viên của bản thôn còn được biểu hiện rõ trong lĩnh vực sinh hoạt văn hoá tinh thần. Đó là những dịp tết lễ, cúng thần thỏ công thổ địa, cầu đảo khi gặp thiên tai dịch bệnh, là những ngày chợ xuân, hội xuân mà ai nấy đều tham gia với cả niềm hân hoan.

Dường như hoàn cảnh sinh hoạt và sản xuất khó khăn đã tạo cho người Nùng một tinh thần nhẫn nại, chịu khó, làm ăn có tính toán, có kế hoạch. Bên cạnh đó, tâm lý tự hào và tự ton dân tộc được thể hiện rõ. Trai gáI Nùng gặp nhau, chào hỏi nhau bằng những câu Sli lời lượn một cách hồn nhiên thoải mái không kể hoàn cảnh không gian thời gian như thế nào. Ngày nay tren các chuyến tàu ngược xứ lạng ai cũng có thể chứng kiến chảnh nam nữ thanh niên Nùng Phản Slinh hát với nhau trên sân ga, ở ngay đầu toa tàu mà chẳng chút e lệ.

Trước sau Cách mạng Tháng Tám ít lau, ở nhiều nơi có thể có những gia đình lớn bao gồm bố mẹ, tất cả những con trai đã có vợ vó con cùng chung sống dưới một mái nhà. Thành viên vủa những gia đình kiểu ấy có thể len tới 20 – 30 người. Các con chỉ tách ra ỏ tiêng sau khi cưới vợ cho con trai út. Các con trai thứ sẽ lần lượt tách ra ở riêng còn con cả cùng với vợ con của mình ở lại với bố mẹ. Cha mẹ thường có khuynh hướng giữ các gia đình của các con trai chung sống với nhau trong một thời gian, nhưng trong điều kiện chế đọ tư hữu đã phát triển, ý muốn ấy thường không thực hiện được.

Tuy đã ra ở riêng và được chia một số tài sản, như ruộng nương, trau bò, công cụ…nhưng các an hem trai vẫn thích sống quây quần bên nhau với mục đích trợ giúp nhau trong các mặt sinh hoạt, đời sống; trong trường hợp ấy, lúc đầu, người cha, sau đó người con trai trưởng, có trách nhiệm bao quát chung. Nhưng người này không có quyền hành gì lắm đối với các gia đình của các anh em trai, nếu không kể mặt tham góp ý kiến trong tổ chức sinh hoạt, sản xuất và đứng ra để hoà giải những ý kiến bất đồng nếu có.

ở người Nùng, tiểu gia đình phụ quyền với tôn ti trật tự phong kiến đã thống trị từ lâu. Thường tiểu gia đình phụ quyền bao gồm vợ chồng và những đứa con của họ. Có thể bao gồm cả các em trai chưa vợ, các em gái chưa chồng cũng có thể gồm cả hai bố mẹ già nữa. Người đàn ông làm chủ gia đình, làm chủ tài sản, có quyền quyết định tát thảy mọi công việc trong nhà và tham gia các công việc xã hội. Người đàn bà giữ vai trò phụ thuộc, không có quyền thừa kế tài sản, chỉ chăm lo công việc nhà, không được đi học, không được tham gia công việc xã hội.


Người vợ goá cũng không có quyền thừa kế tài sản, đặc biêt là số bất động sản do chồng để lại. Nếu không có con trai, ruộng đất của người chồng quá cố sẽ thuộc quyền sở hữu của anh em chồng. Những gia đình chỉ có con gái thường nhận một đứa cháu giai, con của an hem trai ruột hoặc anh em họ, làm con nuôi để kế thừa tài sản và chăm lo công việc cúng bái trong gia đình. Cũng có khi những gia đình ấy cưới rể cho con gái, gọi là rể đời ( khươi nạp tế), trong trường hợp này người con rể được thừa kế tài sản.

Phân công lao động trong gia đình ít nhiều còn mang tính chất phân công theo giới tính: Sinh hoạt sản xuất được phân chia ra (( công việc của nam giới)), (( công việc của nữ giới )). Phụ nữ thường đảm nhận những công việc bếp núc, kéo sợi, dệt vải, may mặc, nuôi con… Họ cũng tham gia một số công việc đồng áng như cấy, làm cỏ, bón phân, gặt…Có nơi phụ nữ cũng đi cày bừa, thành nương, phá rẫy, đắp đập, khơi mương máng nếu có điều kiện. Đàn ông chủ yếu đảm đương công việc vày bừa, xây dung nhà cửa, chuồng trại gia súc, tham gia họp bàn giải quyết công việc của bản mường. ở một số nhóm người Nùng, phụ nữ cũng tham gia một cách tích cực trong tất cả các khâu sản xuất, xây cất nhà cửa, những khâu công việc tưởng chừng chỉ có sức nam giới mới giảI quyết nổi. Phụ nữ cũng là những tay thợ xẻ gỗ, làm thợ mộc, thợ đá,rèn, đan lát, làm giấy…thành thạo chẳng kém nam giới. Hình như khi còn làm ăn cá thể, sự kết hợp lao động ấy vốn phổ biến trong nhóm Nùng An. Sự tham gia của trẻ em còn bao hàm ý nghĩa luyện tay nghề nữa, đó cũng là một hình thức giáo dục của gia đình.

Tuy thế, ý thức trọng nam khinh nữ lại hết sức đậm nét, không phải chỉ trong vấn đề thừa kế tài sản, giảI quyết công việc gia đình và xã hội, mà còn ở nhiều mặt khác nữa. Trong căn nhà của người Nùng thường có sự quy định rõ ràng chỗ ăn ở của tong giới. Phụ nữ, bà cụ già nhất định không được nằm ở phần ngoài của nhà. Mọi công việc của phụ nữ chẳng hạn ăn sưởi lửa khách nữ… chỉ ở những chỗ đã được xác định . Trong gia dình phụ nữ phải tuân thủ những đều kiêng cấm, chẳng hạn không được ngồi vào chỗ tiếp khách của nam giới, không được ngồi chỗ cao, không được đi ngang qua các bàn thờ trong nhà.

Trong gia đình, dù con anh hay con em, con chị gái hay em gái, con cô hay con cậu, cứ lớn tuổi hơn đều là anh chị, chứ không theo lối xưng hô của người Kinh, người Tày…ai thuộc nghành trưởng đều là anh chị, không kể tuổi tác.

Cũng như một số dân tộc an hem, ở người Nùng có thói quen ít khi gọi tên tục đối với những người đã có con có cháu, mà thường gọi theo tên của đứa con hoặc cháu đầu. Giữa vợ chồng cũng vậy, rất ít khi gọi tên tục của nhau, mà thường xưng hô ((thím cái Hoa)),((chị dâu của em Thái)), ((chú của Kiên))…Và sau khi có con, thì gọi nhau theo tên con đầu; trong gia đình lối xưng hô giữa các bậc, các thé hệ, nhất là những người trong họ và những người đến làm dâu, làm rễ, đều tuân theo lối xưng hô đó.

Các thành viên chung sống dưới một mái nhà luôn vui vẻ đầm ấm, thân thương. ít khi they chửi mắng, cãi vả nhau. Bậc cha mẹ chỉ bảo con cháu mình bằng những lời êm ái nhẹ nhàng, giáo dục con cháu bằng cách làm gương; ngược lại bậc dưới lấy lòng tôn kính để đối xử với ông bà cha mẹ; giữa anh chị em lấy tình ruột thịt mà bảo ban góp ý nhau. Giáo dục con cháu tinh thần cần cù, chịu khó, giàu lòng nhân ái, sẵn sàng làm điều thiện…đó là những truyền thống tốt trong quan hệ gia đình của người Nùng trước Cách Mạng Tháng Tám, mà ngày nay đang được phát huy.

Từ ngày cách mạng thắng lợi, kháng chiến chống thực dân Pháp thành công, xã hội người Nùng đã có nhiều biến đổi . Quan hệ giữa người với người được xây dung trên cơ sở hữu ái giai cấp, dân chủ trong công việc quản lí, bìn đẳng trong quyền lợi và nghĩa vụ, bởi vì trong xã hội của họ chỉ còn có giai cấp nông dân tập thể, công nhân và tầng lớp tri thức xã hội chủ nghĩa đang lớn mạnh. Người tham gia vào các cấp chính quyền, Đảng và các đoàn thể ngày càng nhiều. Phụ nữ cũng được học hành, được tham gia các công việc quản lí, được giữ các trọng trách ở cấp huyện, cấp tỉnh, xã, hợp tác xã…Cũng đã có nhiều những nữ đại biểu Quốc hội người Nùng

Dân tộc nùng

Trong quan hệ hôn nhân của họ cũng đã đạt được những bước tiến đáng kể, mà những biểu hiện của nó là được xây dựng trên cơ sở tình yêu chân chính, nam nữ bình quyền và tôn trọng lẫn nhau, thực sự vì hạnh phúc của con cháu. Nạn tảo hôn đang được khắc phục có kết quả.

Phải nói rằng, đã từ lâu hôn nhân của người Nùng là hôn nhân một vợ, một chũng bền vữngvà cư trú bên nhà chồng. Người Nùng thường dựng vợ gả chồng cho con cái vào độ tuổi từ 16 đến 20. Không hiếm những trường hợp xây dựng gia đình từ lúc mới lên 10, 12 tuổi. Thanh niên nam nữ được tự do luyến ái ở mức độ nhất định, được tự do hát ví (và sli) thổ lộ tâm tình, tìm hiểu nhau nhân các dịp hội hè, đình đám, ... Nhưng họ có trở thành vợ, thành chồng hay không còn tuỳ thuộc vào ý trí của bố mẹ. Thêm nữa một cuộc tình duyên chỉ có thể êm thấm, như quan niệm xưa của họ, khi mệnh số của hai người tương hợp. Quan niệm này cùng với tính chất phụ quyền là một trở lực lớn đối với tự do luyến ái của thanh niên nam nữ Nùng khi xưa.

Trong hôn nhân của người Nùng tính chất mua bán còn khá đậm nét. Sự tính toán hơn thiệt, các khoản phí tổn trong hôn lễ còn khá nặng nề. Cách đây không lâu nhiều trường hợp nhà gái thách cưới từ vài trăm cho tới hàng ngàn đồng ; rượu, thịt, gạo ... mỗi thứ kể hàng tạ ... Theo quan niệm xưa, có như vậy họ mới được đánh giá, mát mặt mở mày với hàng xóm ...

Tuy cư trú bên nhà chồng đã phổ biến, nhưng vẫn có thể thấy ở người Nùng có hai hình thức ở rể. Nếu gia đình bố mẹ vợ chưa có con trai lớn, thiếu lao động thì lúc ấy bên nhà gái sẽ đòi hỏi người trai rể dến ở rể vài năm, có khi tới hàng chục năm, cho đến lúc các em trai vợ đã có thể sống tự lập được. Lúc đấy chàng rể mong tách ra ở riêng hoặc về bên nọi. Trong trường hợp đó, bố vợ hoặc em trai vợ sẽ chia cho một phần nhỏ tài sản để gây vốn làm ăn lâu dài. Con cái vẫn theo họ bố.

Trường hợp thứ hai, gia đình nhà vợ không có con trai. Lúc ấy nhà gái thường chủ động trong quan hệ hôn nhân, và những phí tổn cho hôn lễ đều do nhà gái lo liệu; lúc ấy, thân phận người con trai chẳng khác gì con gái đi làm dâu vậy, bởi vì người con gái sẽ đón chàng rể về nhà mình và chàng rể sẽ ở lại đó cho tới thuở bạc đầu. Đồng bào quan niệm những người con trai ấy thật thấp hèn, bởi vì tuy anh ta không phải đổi họ, nhưng con cái đều mang họ vợ. Tuy nhiên vai trò củ anh ta trong việc tổ chức sinh hoạt gia đình ngày càng lớn thêm ; anh ta không trực tiếp thừa kế tài sản, nhưng của cải, từ ruộng nương, nhà cửa, trâu bò ... đều thuộc về vợ và con của anh ta.


Như đã nói, trong xã hội Nùng hôn nhân một vợ một chồng là hình thức chủ yếu. Tuy vậy rải rác đó đây có những đàn ông lấy hai vợ, ba vợ nhưng thường là nhà khá giả, "giàu có"

Người đàn bà goá có thể đi bước nữa mà không bị chê trách, cảc trở nhưng phải để lại tài sản cho họ hàng nhà chồng ; có thể đem theo con gái nhưng con trai nhất thiết phải để lại cho nhà chồng. Trường hợp tái giá mà vẫn ở lại chòng cũ, thì tài sản vẫn để nguyên cho gia đình.

Những trường hợp ly dị ít xảy ra, và thường bị dư luận quần chúng phản đối, chê cười. Tuy thế ở một số nhóm Nùng việc ly hôn cũng dễ dàng, thường do phụ nữ chủ động ; ít trường hợp chồng đòi ly dị vì đã phải tốn tiền của mới mua được người phụ nữ.

Sau Cách mạng Tháng Tám, quan hệ hôn nhân đã có nhiều chuyển biến. Ngày nay các bậc cha mẹ đã chú ý nhiều đến ý kiến của con gái và trân trọng tình yêu của đôi trẻ. Trường hợp bậc cha mẹ chủ động dựng vợ gả chồng, ít khi làm trái với nguyện vọng của con cái và trân trọng tình yêu của đôi trẻ, nếu có sự trục trặc nào đó thì thường dùng biện pháp thuyết phục. Bởi vậy hình thức hôn nhân tự do, xây dựng trên tình yêu chân chính ngày càng phổ biến rộng rãi. Tuy nhiên, trên bước đường tiến hoá của mình, các quan hệ hôn nhân của các ở các dân tộc nói chung, ở người Nùng nói riêng, còn cần phải gạt bỏ những mặt hạn chế, những yếu tố tiêu cực, như việc so đôi tuổi, tính chất mua bán, ăn uống linh tinh tốn kém. Sau nữa, việc cưới xin, một mặt cần đơn giản mà vẫn long trọng ; mặt khác không phức tạp, tốn kém mà vẫn duy trì được bản sắc dân tộc.Sinh hoạt văn hoá tinh thần.

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được về phương diện văn hoá vật chất, người Nùng cũng đã xây dựng được một nền văn hoá tinh thần bao gồm nhiều lĩnh vực ngày thêm đa dạng và phong phú. Nhưng bên cạnh những yếu tố tích cực cần được phát huy, cũng không ít những mặt lỗi thời, tiêu cực cần phải khắc phục, thường biểu hiện trong tín ngưỡng tôn giáo.

ở cả Nùng lẫn Tày nổi bật lên một quan niệm về linh hồn, đó là khái niệm "phi" tạm dịch là ma, các dịch như thế quả là phiếm diện, vì thực ra khái niệm phi bao hàm tất cả những ma quỷ, thần thánh, có mặt khắp mọi nơi trong thế giới bao quanh chúng ta, đó là những ma trời, ma phật, ma đất, ma rừng, ma rú, ma tỏ tiên, ma người sống, ma người chết yểu, ma người chết vì thương tật, ma trẻ em ... Những loại ma trên đây được phân là ma lành và ma dữ, tức phúc thần và hung thần. Thuộc lôại phúc thần là ma tổ tiên, ma mụ, ma bếp, ma mường, ma bản, thần nông bảo vệ người, gia súc, mùa màng ... Thuộc loại hung thần là những loại ma chực tác oai, tác quái, có thể giáng hoạ bất kỳ lúc nào, bất cứ nơi đâu. Người ta đều phải cúng cả hai loại ma, mỗi khi chúng yêu cầu. Nhưng chỉ loại ma lành được thờ trong nhà như tổ tiên, ông táo, bà mụ, thần chăn nuôi gia súc, thần nông ..., hoặc được thờ trong bản như thần thổ công, hoặc trong Mường như thần thành hoàng ... hàng năm có những kỳ cúng bái cẩn thận ; ma tổ tiên là vị thần bảo lãnh cho con cháu, nhưng cũng có lúc "trừng phạt" làm con cháu điêu đứng, phải lo liệu các lễ hiến sinh. ở nhiều nơi, để tôn lên vẻ uy nghiêm của các vị thần hoàng làng, thổ công người ta cấm động chạm tới khu đất có miếu thờ ; đi ngang qua phải xuống ngựa (nếu đi ngựa) thậm chí phải ngả nón khi đi qua trước miếu.

Trong thờ cúng thì chủ yếu là thờ cúng tổ tiên. Tổ tiên được thờ cúng trong từng căn nhà, không phân biệt gia đình đó thuộc chi trưởng hay thứ, ngay cả khi các con trai ra ở riêng mà bố mẹ vẫn còn sống cũng đã lập bàn thờ để thờ các bậc tổ tiên. Sau khi bố mẹ qua đời, vong linh được rước về thờ tại mỗi gia đình. Dưới mỗi mái nhà được lập một giường thờ được trang trí cẩn thận, có phùng slằn (ghi rõ tổ tiên thuộc dòng họ nào), có các lư hương. Bàn thờ to0ỏ tiên được đặt ở chỗ trang trọng nhất, thường ngang với xà nhà tại gian giữa, nằm giữa hai cột chính. Mỗi tháng hai lần, mùng một và hôm rằm, chủ gia đình quét dọn bàn thờ, thắp hương nhang cúng bằng chè hoặc ruợu. Còn trong các ngày lễ tết, thì phải cúng bằng thức ăn đồ uống mà con cháu dùng trong các dịp đó. Các bậc tổ tiên, không cứ là bao nhiêu đời, từ bố mẹ trở lên là được thờ tại đó.

Những gia đình có người làm thầy tào, thầy mo, bụt, then ... thì có thêm một bàn thờ để thờ "thánh tướng và âm binh" nữa. Cũng vào các dịp tết lễ, ngày mùng một và ngày rằm của mỗi tháng phải thắp hương nhang, đèn nến, cúng và cấp vàng mã ...

Gia đình nào thờ táo quân thì phải giữ gìn bếp cẩn thận, như không được nhổ, bỏ giấy đã viết vào bếp, không được xào nấu các thức ăn gọi là những món ăn tạp, như thịt trâu, bò, chó ...

Ma mụ thường thờ ngay tại đầu giường của phụ nữ đã có con. Cúng vào các dịp lễ tết.

Những loại ma trên đây thường phải cúng mỗi khi trong nhà có người đau ốm khi bói thấy chúng đòi thức ăn hoặc vì con cháu phạm vào những điều kiêng hem trong nhà.

Khác với người Tày, ở người Nùng rất phổ biến tục thờ "ma ở ngoài sân" (phi hang tràn). Theo thần tích, vị thần này cũng chính loà thần thổ địa. Nhưngt đối với một số họ người Nùng phi hang chàn lại là một thần An Phủ Đại Vương, tức Nùng Trí Cao, một thủ lĩnh người Tày - Nùng vào thế kỷ XI. Đồng bào cho rằng vị thần này rất linh thiêng, mỗi khi mổ lợn đều phải cúng tại sàn phơi trước khi đem bán hoặc đem nấu nướng. Việc cúng chẳng lấy gì làm phưc tạp, chỉ việc cắt lấy thủ lợn đặt trên tàu lá chuối, cắm vài nán hương.

Có thể phân biật dễ dàng nhà người Nùng và Tày một cách dễ dàng trong dịp tết nguyên đán. Khác với Tày, gia đình Nùng nào cũng có một bàn thờ cạnh cửa trước ; tại đấy người ta đặt vài loại bánh và thắp hương trong suốt ba ngày tết. Theo quan niệm của họ, thì xung quanh ta có vô số ma quỉ, ngày tết cần bày các lễ vật tại đó, ma nào đi qua nếu cần thị nhận lấy, khỏi vào nhà người ta.

Đồng bào Nùngcòn thờ các thần thổ địa thổ công thành hoàng là những vị thần công cộng của từng bản thôn, có khi của toàn mường, có nhiệm vụ bảo vệ sinh linh, mùa màng. Đối với thần thổ công,k thì cứ ngày mùng một tết Nguyên đán, các gia đình trong chòm xóm đều phải mang lễ vật đến cúng. Khi trongchòm xóm có người chết, khi một căn nhà mới mọc lên ... thì gia chủ phải sửa lễ, báo cho thổ công biết.

Thành hoàng hầu như địa phương nà cũng có, nhưng không nhất thiết bản nào cũng có miếu thờ. có khi mấy chòm xóm lân cận nhau mới có một đình chung. Hàng năm vào mủa xuân các gia đình tụ tập lại để cúng.

Cần thấy thêm rằng tục thờ các tổ sư các nghề nghiệp cũng rất phổ biến như tổ sư nghề rèn, nghề đúc, làm đồ đá, nghề xẻ gỗ làm gạch, ngói v.v... Và, những tín ngưỡng lễ nghi liên quan đến sản xuất nông nghiệp cũng rất nhiều, thờ cúng rất phức tạp. khi nói về các ngày hội xuân, hội óc pò ... đã thấy đó là những hìng thức cầu mùa. Ngoài ra còn có những kì cúng bái, cần đảo bất thường lúc gặp thiên tai, dịch bệnh, hạn hán, v.v...

Sau nữa, có thể nói dân tộc Nùng bị ảnh hưởng của Tam giá khá sâu sắc. Tuy vùng người Nùng ít, hầu như không có chùa chiền thờ phật, songt ở nhiều gia đình vốn thờ Phật bà Quan Âm ngay trong nhà, trong một chiếc khảm kín đáo đặt trên sàn gác ; có khi được trang hoàng lộng lẫy hơn cả bàn thờ tổ tiên nữa. Những gia đình thờ phật thường kiêng cấm đem những đồ mà họ cho là uế tạp vào nhà ( thịt trâu, bò, thịt chó ...) ở nhiều địa phương có tục thờ phật ngoài trời. Chỗ thờ phật thường là đỉnh đèo, có cây râm mát, tĩnh mịch, linh thiêng, goi là kéo pịt hay kéo Phặt chì ( đèo phật) để khách bộ hành nghỉ chân. Mỗi khi khách đi qua, trước lúc nghỉ chân, đều đắp vào "điện phật" một hòn đá và cắm vào đó một cành cây hay một bông hoa để dâng phật, là mô đá ngày thêm cao to ra.

Rất có thể càng lần sâu vào quá khứ của người Nùng, càng thấy nhiều hình thức cùng là những những biểu hiện của tôn giáo tín ngưỡng. Nhưng từ ngày cách mạng thành công trở lại đây, những điều mê tín dị đoan được giảm bớt, một khi khoa học ở họ đang từng bước phát triển, những nguyên nhân đau khổ khi xưa đã bị xoá bỏ, nếp sống mới - văn minh dang vươn lên.

Nhưng phải thấy rằng trong đời sống tinh thần của người Nùng không phải chỗ nào cũng u ám cả, mà còn có những viên ngọc quý - đó là vốn văn học dân gian phong phú. Nổi bật nhất là các điệu sli, một lối hát ví, hát giao duyên của thanh niên nam nữ. ở mỗi nhóm, mỗi địa phương có các điệu sli khác nhau. Đến với họ có thể thưởng thức các điệu soong lằu, nhì hào của Nùng Phản Slình ; điệu sli ới của Nùng lòi , điệu hà lều của Nùng Cháo, sli giang của Nùng Giang, nàng ới, hà lù... Đặc điểm của các điệu sli là diễn xướng tập thể, mỗi bên nam nữ khi hát với nhau thường phải có từ hai người trở lên, hát theo hai bè. lời ca của các điệu sli được cấu tạo theo thể thất ngôn tứ tuyệt hoặc ngôn bát cú.ít gặp loại thơ trường thiên thất ngôn gieo vần lưng ( không kể điệu lượn nàng ới...).

Chẳng khác gì lượn của người Tày, sli của người Nùng cũng có lề lối, cách thức, trình tự của nó. Nhưng sli khác với lượn ở chỗ có thể được diễn xướng trong mọi thời gian không gian, miễn là có đủ điều kiện trong những dịp chợ xuân, hội lồng thồng, óc pò, dọc đường đi, thậm chí trong những ngày chợ phiên bìmh thường họ cũng tổ chức và sli với nhau không một chút rụt rè e lệ. Sli được tổ chức vào ban đêm cũng như ban ngày.

Ngoài sli ra, trong nền thơ ca của người Nùng còn có thơ cổ phong, cò lẩu, truyện thơ khuyết danh ... Cò lẩu là những bài thơ trong đám cưới dùng để chúc tụng nhau. Bên cạnh đó còn có một kho tàng truyện cổ tích, truyện cười, ngụ ngôn ... rất phong phú. Những câu truyện các thể tài này cũng na ná như ở người Tày. Trong rất nhiều trường hợp khó phân biệt đâu là của người Tày, đâu là của người Nùng.

Nghệ thuật âm nhạc của người Nùng đã

khá phát triển, biểu hiện ở tính phong phú của các làn điệu tuỳ từng nhóm và tuỳ từng địa phương; biểu hiện ở lối hát xướng theo nhiều bè cao thấp khác nhau. Tuy vậy, nhạc cụ lại rất nghèo nàn, hầu như chỉ là các loại thuộc bộ gõ đánh như: trống, não bạt, chũm chọc, các loại chuông, nhạc sóc ... Đàn dây hầu như không có. Thuộc bộ thổi thì chỉ có tiêu, sáo ngang... , nhưng chưa được lưu hành rộng rãi.

Múa cũng còn rất nghèo nàn, nếu không kể các điệu xiên tâng trong các đám ma, đám chay, mua kì lân trong dịp tết Nguyên đán. Nói chung, các nhạc cụ, những điệu múa thường được dùng trong tín ngưỡng tôn giáo nhiều hơn.

Trong các dịp lễ tết, hội lồng thồng, chợ xuân... thanh thiếu thường tham gia đông đảo vào các trò chơi như gieo đúm (thọt còn), đánh cầu lông (tức din), đánh quay (tả sáng), kéo co... ; ngày nay có thêm các hình thức thể thao mới, như bóng truyền, bóng rổ. Đội bóng đá của xã Phúc Xen ( Quảng Hoà, Cao Lạng) đã nhiều phen làm mưa làm gió trên sân cỏ của địa phương.

Mặc dù đồng bào còn mê tín, chữa bệnh bằng cách cúng bái, phép thuật, nhưng cũng đã tích luỹ được nhiều cách chữa bệnh bằng các cây thuốc. Danh mục các cây thuốc ngày thêm phong phú. Bằng nền y học dân gian đồng bào Nùng không những chữa được các chứng bệnh thông thường như cảm cúm, nhức đầu ... mà còn cứu chữa được người bị rắn rết cắn, biết cách băng bó chỗ xương gãy, nắn khớp ..., chẳng những biết cách xoa bóp mà còn biết châm cứu ; không những có các cây thuốc chữa bệnh trực tiếp và hiệu nghiệm, mà còn tìm ra các loại thuốc bổ nữa.

Sau Cách Mạng Tháng Tám, nhờ có chính sách dân tộc đúng đắn của Đảng và Chính Phủ, ngôn ngữ của các dân tộc đã có điều kiện thuận lợi để phát triển. Một văn tự chung cho cả Tày lẫn Nùng được tạo trên cơ sở vần chữ cái la - tinh. Từ ngày Chính Phủ thông qua phương án chữ Tày - Nùng, thì chữ mới này đã được sử dụng ngày càng rộng rãi, nhất là trong các lĩnh vực văn hoá - văn nghệ. Văn tự chung cho cả Nùng lẵn Tày là một trong những cái mốc đánh dấu quá trình xích lại gần nhau, tương tác giữa người Tày và người Nùng đang được đẩy mạnh.
Mới chỉ 30 năm trôi qua kể từ Cách Mạng Tháng Tám, mà trong mọi mặt của người Nùng đã có những chuyển biến lớn lao, do quan hệ sản xuất xưa kia được thay thế bởi quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ; xoá bỏ các giai cấp bóc lột ; thực hiện dân chủ trong các công việc quản lý kinh tế - xã hội, bình đẳng về quyền lợi, tính hữu ái giai cấp công nông và tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa đang được mở mang và củng cố. Những điều kiện kinh tế không ngừng biến đổi làm cho chính bản thân người Nùng thêm mạnh bước trên con đường tiến bộ, hướng về văn minh. Điều đó được biểu hiện ra ở chỗ ranh giới giữa các nhóm địa phương với những tên gọi khác nhau đang dần mờ nhạt, ý thức về một dân tộc Nùng thống nhất đang được phát triển và củng cố. Thêm nữa, những mặt lạc hậu đang được tích cực xoá bỏ, những yếu tố tích cực đang được duy trì và phát huy, đồng thời tiếp thu các yếu tố tiến bộ của các dân tộc anh em trong nước và các dân tộc tiên tiến trên thế giới, làm cho nền văn hoá - sinh hoạt của họ thêm phong phú, đa dạng mà vẫn đậm đà tính cách dân tộc. Đồng thời ở họ chủ nghĩa anh hùng cách mạng được nâng cao, và người Nùng đã và đang góp phần xứng đáng của mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.




st:tại vietnamculture

thanhruoi
09-09-2008, 09:50 PM
http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/24848c 68c624ff7f.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2424)
Dân tộc tày là một cộng đồng thuộc ngôn ngữ Tày – Thái có dân số đông nhất trong các dân tộc ít người ở miền Bắc nước ta, đến nay đã có khoảng 80 vạn người chiếm 22% dân số các dân tộc ít người ở miền Bắc và 1,65% tổng số dân số toàn quốc. Tuy dân số đông, dân tộc Tày là một cộng đồng khá thuần nhất với một ý thức rõ rệt. ở các địa phương khác nhau, các cư dân đều thống nhất tên tự gọi là Tày và tên đó đã trở thành tên gọi chính thức của dân tộc từ ngày Cách mạng Tháng Tám thành công.


Hiện nay dân tộc Tày là cư dân đông nhất ở vùng Việt Bắc cư trú suốt một giải miền trung du và thượng du Bắc Bộ, từ tỉnh Hoàng Liên Sơn tới tận tỉnh Quảng Ninh, tập trung đông nhất ở các tỉnh Bắc Thái, Hà Tuyên và Cao Lạng, có quan hệ thân thuộc và gần gũi với dân tộc Nùng, Giay, Cao Lan – Sán Chỉ ở Việt Nam, dân tộc Cháng ở Trung Quốc và có ảnh hưởng về các mặt tới các cư dân khác ngôn ngữ cư trú xen kẽ quanh vùng

Vài nét về lịch sử.

Từ xưa đến nay, các cư dân thuộc ngôn ngữ Tày – Thái đã giữ vai trò rất quan trọng trong lịch sử miền Nam Trung Quốc và các nước ở Đông Nam á. Hiện nay số đông nhà khoa học chấp nhận có nhiều yếu tốvăn hóa Tày – Thái cổ được truyền bá đến các dân tộc xung quanh như dân tộc Hán, các dân tộc thuộc ngôn ngữ Tạng – Miến, Việt – Mường, Môn – Khơme, Mèo – Dao và Malayô-Polinediêng. Ngược lại, họ cũng hấp thụ những yếu tố văn hóa Tày – Thái ngày một tiến triển với một nên văn hóa đã thúc đẩy những dân tộc Tày – Thái ngày một tiến triển với một nền văn hóa ngày càng phong phú và đồng thời cũng làm cho bộ mặt của các dân tộc Tày – Thái ngày nay mỗi vùng có những vẻ khác nhau.

Từ khi thực dân pháp xâm lược nước ta, nhân dân Tày đã nhiều dịp cùng nhân dân các dân tộc trong cả nước tham gia phong trào đấu tranh giải phóng đất nước. Ban đầu hưởng ứng Hịch Cần Vương do Tôn Thất Thuyết phát động, nhân dân Cao Lạng chống pháp suốt từ năm 1887 đến 1894. Vùng núi đá Bắc Sơn – Hữu Lũng trở thành căn cứ địa của nghĩa quân Hoàng Đình Kinh. Dưới sự chỉ huy của Lương Tam Kỳ và Bá Kỷ, trong những năm 1886 – 1890, nhân dân các vùng Chợ Chu, Chợ Mới (Bắc Thái) đã lập căn cứ chống Pháp.

Nghĩa quân do cụ Hoàng Hoa Thám lãnh đạo có người Tày tham gia bên cạnh các dân tộc anh em, đã duy trì phong trào đấu tranh đòi thả cụ Phan Bội Châu, truy điệu cụ Phan Chu Trinh (1926) đã có ảnh hưởng lớn đến vung Cao Lạng, thúc đẩy một số thanh niên yêu nước xuất dương đi tìm con đường cứu nước, cứu dân, tiêu biểu có đồng chí Hoàng Đình Giong và Hoàng Văn Thụ, Khoảng năm 1927, hai thnh niên Tày này sang Trung Quốc tham gia Thanh niên cách mạng đồng chí hội, sau đó trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương.

Từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, phong trào cách mạng nước ta bước sang một giai đoạn mới. Cơ sở cách mạng, từ đồng bằng phát triển lên đã được xây dựng ở Cao – Lạng sau tỏa ra nhiều tỉnh miền núi, chi bộ Đảng đầu tiên được thành lập ngày 1/4/1930 ở Nạm Lin, xã Hào Lịch, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, sau trở thành vết dầu loang ra khắp nơi ở Việt Bắc.

Trong những năm 1931 – 1935, tổ chức Đảng ở Cao Bằng đã vận động đồng bào các dân tộc châu Hòa An, Hà Quảng, Nguyên Bình tiến hành nhiều cuộc đấu tranh chông bắt phu, chống thuế, chống phụ thu, lạm bỏ thắng lợi. Các cán bộ Đảng về xây dựng phong trào ở huỵên Võ Nhai, Bắc Sơn (1934 – 1935), Đình Cả (1936). Hưởng ứng phong trào Mặt trận bình dân (1936 – 1939) làn sóng đấu tranh của nhân dân Việt Bắc ngày càng lan rộng. Phong trào đòi quyền tự chủ, thả tù chính trị, chống địch tuyên truyền cho hòa ước bán nước 1884, hưởng ứng phong trào Đông Dương Đại hội kết hợp với việc chống thuế, chống đi phu… đã lôi cuốn được quần chúng nhân dân Tày hưởng ứng mạnh mẽ.

Tháng 9 – 1940, nhân khi Nhật đánh Pháp ở Lạng Sơn, nhân dân Bắc Sơn nổi dậy đánh chiếm tỉnh lỵ Bắc Sơn, đồn Mỏ Nhài, tuyên bố xóa bỏ chính quyền đế quốc, thành lập chính quyền cách mạng. Sau cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Đảng chủ trương duy trì lực lượng võ trang đánh du kích lâu dài với địch và thành lập các đội cứu quốc quân trong đó có nhiều người Tày tham gia.

Quê hương dân tộc Tày cũng là nơi vinh dự được đón Hồ Chủ tịch trở về nước trực tiếp lãnh đạo Cách mạng Việt Nam. Ngày 8/2/1941, ở Pắc Bó, người quyết định xây dựng Cao Bằng nơi có phong trào cách mạng tốt từ trước lại kề sát biên giới thành một trung tâm căn cứ địa, lấy đó làm bàn đạp phát triển về xuôi nối với phong trào cách mạng cả nước. các hội cứu quốc được phát triển sâu rộng trong các bản làng.

5/1941, tại Pắc Bó, hội nghị lần thứ VIII của trung ương Đảng quyết định thành lập mặt trận Việt Minh và từ đó cơ sở Việt Minh lan rộng khắp Cao Lạng (1941 – 1942), Bắc Thái, Hà Tuyên (1948).

Ngày 22/12/1944, trong một khu rừng của tổng Hoàng Hoa Thám (Nguyên bình cao lạng) đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam đã ra đời, được nhân dân các dân tộc Tày, Nùng, Dao… che giấu và nuôi dưỡng, không ngừng phát triển.

Khu Tân Trào lại được chứng kiến việc ban bố lệnh khởi nghĩa và việc thành lập Chính phủ lâm thời.

Vùng Việt Bắc, quê hương dân tộc Tày đã được vinh dự là căn cứ địa của cách mạng hồi tiền khởi nghĩa cũng như trong những năm kháng chiến chống thực dân pháp (1946 – 1954). Nhân dân Tày hăng hái sản xuất, giết giặc lập công, bảo vệ bản làng, đóng góp sức người sức của cho kháng chiến. Trong năm chiến dịch lớn (Biên giới, Hoàng Hoa Thám, Trần Hưng Đạo, Hòa Bình, Điện Biên Phủ), đồng bào Tày cùng nhân dân các dân tộc Việt Bắc đã góp hơn triệu lượt người phục vụ tiền tuyến với 13 triệu ngày công. Riêng trong chiến dịch Điện Biên Phủ, họ đã góp 5.229 tấn gạo, 484 tấn thịt, 226 tấn thực phẩm khác và hàng ngàn trâu bò, ngựa. Tỉnh Cao Bằng có 9 vạn thanh niên trên tổng số 20 vạn dân tham gia bộ đội.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, phát huy tinh thần yêu nước nồng nàn, truyền thống chống ngoại xâm bất khuất, kiên cường của cha ông, các lớp thanh niên nối bước ra tiền tuyến với lời thế “hết giặc mới trở về”. Riêng ở tỉnh Cao Bằng, số thanh niên Tày tham gia bộ đội chính quy chiếm tới 49.2% bộ đội chính quy của tỉnh, chiếm khoảng 6.40% dân số dân tộc Tày ở các tỉnh. ở địa phương, nhân dân trẻ cũng như giả làm tròn nghĩa vụ hậu phương, góp phần to lớn vào cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Tính đến ngày 17-1-1973, quân và dân Việt Bắc đẫ bắn rơi 175 chiếc máy bay trong đó có 2 chiếc B.52, bắt sống nhiều giặc lái.

Trong suốt hai cuộc kháng chiến, nhiều cán bộ, chiến sĩ người Tày đã được phong danh hiệu anh hùng, dũng sĩ đã trở thành những vị chỉ huy quân đội xuất sắc được sự tin yêu của Đảng và của nhân dân.

Tinh thần cách mạng của dân tộc Tày ngày nay lại được tiếp tục phát huy trong công cuộc xây dựng một nước Việt Nam Hòa Bình, Thống Nhất, Độc lập và Xã hội chủ nghĩa.

*

* *

Cư trú trên những cánh đồng màu mỡ ở các thung lũng trong đó có nhiều cánh đồng khá lớn như Hòa An, Tràng Định, Lạng Sơn, Phủ Thông, Bắc Quang người Tày đã có một nền nông nghiệp cổ truyền khá phát triển.

ở các vùng người Tày có hầu hết các loại cây trồng ở miền Bắc nước ta. Lúa, ngô đều có nhiều loại, được trồng trên nhiều khu vực và vào những thời gian khác nhau. Một số cây lúa trước đây đã từng được coi là đặc sản của địa phương giống như tám thơm của đồng bằng. Các loại khoai: khoai lang, khoai sọ, khoai môn, củ từ, khoai tây, được trồng nhiều. Rau, đậu (cải bắp, xu hào, cải làn, đậu đen, đậu quả…) mùa nào cũng thấy có. Trên những vùng khí hậu mát mẻ đồng bào còn trồng đậu răng ngựa, đậu hòa lan, đậu cô ve, các lọai đậu đó thường được trồng nhiều ở vùng Mèo. Tính đa dạng của cây trồng rõ ràng không chỉ phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên mà còn do kinh nghiệm sản xuất của quần chúng.

Kỹ thuật làm đất gắn liền với tính năng của công cụ. Bộ nông cụ người Tày gồm nhiều loại, nhìn chung đã khá hoàn chỉnh. Cày tuy cũng chỉ là loại hình cày chìa vôi với nhiều biến dạng khác nhau, những lưỡi to, bắp khỏe có khả năng cáy sâu từ 0m15 đến 0m20, lật được cả sang hai bên, vẫn được dùng cho đến ngày nay đã xuất hiện nhiều loại cày cải tiến. Sử dụng nhiều bừa đôi trong một lúc đã làm tơi đất dễ dàng, nhanh chóng. Cuốc cũng có nhiều loại: dùng vạc bờ, làm cỏ, cuốc đất, đào rễ cây… Cào cỏ đã được dùng phổ biến. Khi gặt đồng bào thường dụng liềm, hái nhắt.

Trước đây trên những chân ruộng sâu sẵn nước thường cấy hai vụ lúa mùa và đông xuân (chiêm rét, chiêm xuân. nam ninh), ở những chân ruộng cạn, đồng bào tranh thủ trồng ngô xuân hoặc lúa mì. Sau khi gặt lúa mùa xong họ lại trồng khoai lang, khoai tây và rau đậu. Khi trồng các loại cây đó do đất đã được xới, nên việc chuẩn bị đất để cấy lúa cũng sẽ dễ dàng hơn.

Thời vụ gieo trồng được thực hiện khá chặt chẽ, đồng bào chủ yếu dựa vào các tiết âm lịch, nhưng đồng thời cũng dựa vào các hiện tượng tự nhiên để tiến hành canh tác. Thường khi có hoa gạo thì trời đã ấm áp lúc đó có thể trồng ngô; khi quả đậu da ngả màu tím thì nên cấy lúa (mác phầu cắm hăm mạ, lốc chả đăng nà)… Đối với lúa chiêm rét thường phải cấy xong vào trước tết, còn lúa xuân thì phải xong vào tháng ba. Vụ mùa là vụ lúa chính phải cố gắng đảm bảo đúng thời vụ, cấy xong vào tháng năm. Đồng bào hay nói: “rửa cày, bừa ăn tết tháng 6 thì tốt lúa”.

Tập quán bón lót rất phổ biến. Xưa kia trong những ngày mùa, đồng bào thường giúp nhau đưa phân ra ruộng, lần lượt từ nhà này qua nhà khác, mỗi ngày có đến 20,30 người đổi công cho nhau. Bón thúc tiến hành trên những đám ruộng xấu và thường kết hợp với làm cỏ. Trên những chân ruộng sâu, đất chua còn được bón thúc bằng vôi. Việc làm cỏ lúa ít ra là hai lần và người ta mong muốn kết thúc công việc này trước tết 15 tháng 7.

Tùy điều kiện mỗi nơi đồng bào đã gắng công làm thủy lợi. Ngoài việc be bờ, cày sâu bừa kỹ để ruộng có thể chứa nước được lâu, họ còn làm phai, làm guồng nước (con) đưa nước lên ruộng thường xuyên; tại những nơi không gần suối, đồng bào ngăn các khe núi thành những hồ nhỏ để lấy nước tưới ruộng khi cần. Nước ruộng bao giờ cũng được giữ ở mức độ nhất định phù hợp với sự sinh trưởng của cây lúa.

Hầu hết các vùng Tày đều đập lúa tại ruộng. Đồng bào đập lúa trên hai đầu của mảng gỗ (lỏng) có phên che hai sườn hoặc đập trên kệ gỗ có cót che ba phía. Lúa đem về được quạt sạch phơi khô rồi mới đưa vào kho. ở một số nơi, lúa cắt về phơi khô trước khi đập. Sau đó chỉ cần quạt sạch là có thể đổ ngày vào bồ. Đối với một vài giống lúa nếp người ta dùng nhíp cắt lấy từng bông, bỏ thành cụm đem về để trên gác, khi dùng mới vò.

Bên cạnh ruộng, bất cứ ở đâu nương cũng chiếm vị trí khá quan trọng trong sản xuất lương thực, thực phẩm. Đồng bào làm nương bãi, nương chân đồi hay ven rừng trồng ngô, sắn, đậu, khoai, gừng, lạc, mía, vừng, bông, chàm… Ngô thường được trồng hai vụ. Sắn, tuy mới phát triển trong mấy chục năm gần đây, nhưng chiếm một diện tích đáng kể.

Đồng bào có nhiều kinh nghiệm trồng xen canh, gối vụ trên các loại đất. Xen canh với ngô ở trên nương có các loại đậu, nhất là đậu tương. Sau khi thu hoạch ngô, đậu thường trồng khoai lang, Xưa kia vào vụ đông xuân đồng bào ta cấy xen lúa xuân với lúa mùa. Sau khi cấy lúa xuân được hơn một tháng, người ta cấy tiếp lúa dài ngày. Gặt xong lúa xuân, lúa mùa mọc mạnh, khi đó họ đập gốc ra xuống, bón thêm phân. Sau vụ mùa, ruộng còn được trồng nhiều loại cây. Còn giá trị như là phương tiện tàng trữ. Tuy vậy việc trao đổi với nhau bằng hiện vật vẫn còn; những lái buôn thường mang các thứ như thuốc lào, đồ sành, đồ sứ, thực phẩm đến nông thôn đổi mua bán tương tự như làm đậu phụ, mổ lợn để đổi lấy lương thực. Hình thức trao đổi này càng phổ biến ở những nơi không có chợ.

*

* *

Bản, đơn vị cư trú của người Tày, thường ở chân núi, cạnh cánh đồng hay ven sông suối. Tên bản thường gọi theo tên đồng ruộng, khúc sông hay giếng nước như: Nà Chà, Tà Cáp, Bô Lếch, Tồng Mu… Không có những bản gọi theo tên người đã quá cố. Bản trung bình có từ 20 đến 25 nhà, bản lớn 60 đến 70 nhà. Cũng có những bản trên 100 nhà. Nhà cửa trong bản được xây cất theo thế đất, đằng sau dựa vào núi phía trước nhìn ra cánh đồng. những bản to còn được chia làm nhiều xóm nhỏ như làng ở miền xuôi, gọi là Còn, Còn tửu, Còn nưa, Còn dâng, Còn chang, Còn nọc… ở nhiều vùng bản có lũy tre bao quanh. Riêng ở biên giới có những bản còn xây thêm tường đá bao bọc rất kiên cố, phòng trộm cướp. Nhiều bản thường chỉ có người Tày, nhưng cũng có nơi còn có các dân tộc anh em, nhất là người Nùng. Nhìn chung cư trú xen kẽ Tày Nùng trong một bản là hiện tượng phổ biến.

Nhà cửa người Tày có thể gồm ba loại chính: nhà sàn, nhà đất và nhà phòng thủ. Về kiến trúc mỗi loại bao gồm nhiều kiểu khác nhau.

Nhà sàn là loại hình phổ biến gồm hai kiểu: nhà sàn bằng gỗ và nhà sàn tường đất. Nhà bằng gỗ có loại sơ sài, cột chôn xuống đất, mái tranh vách nứa. Có loại làm kĩ lưỡng hơn . Cột kê trên đá tảng, lắp ráp bằng mộng, lợp bằng ngói “âm dương”, lá cọ hay tranh. Sàn lát ván hay giát. Xung quanh ghép ván hay phên nứa. ở một số nơi tường xây bằng đá hoặc tường đất trình. Nhà cột kê thường được dựng theo quy mô rộng: 3 gian, 5 gian, 7 gian, có khi còn thêm hai chái. Mỗi gian rộng từ 2m50 trở lên, riêng gian giữa rộng trên dưới 3m. Nhà thường có hai mái hay bốn mái. Sàn phơi tùy từng vùng được dựng ở phía trước hay đầu hồi của nhà, nhưng đều gắn với cửa chính. Ngoài ra còn có một sàn nhỏ, gọi là slic, được dựng ở một trong hai góc nhà phía sau, có thang lên xuống, đặt nước và để người nhà đi lại khi có khách. Nhà sàn của người Tày là loại nhà tổng hợp. Trong nhà có chỗ ngủ, bàn thờ tổ tiên, nơi tiếp khách, bếp nấu ăn, cối giã… trên gác thường để thóc ngô và dụng cụ gia đình. Gầm sàn là chuồng gia súc là chỗ để nông cụ. Tuy nhiên, ở nhiều nơi chuồng trâu, chuồng lợn thường đặt ở gian chái hoặc nơi mà trên sàn không có chỗ ngủ.

Nhà đát, về kỹ thuật xây cất và bố trí, giống như: nhà sàn, tường trình, mái lợp ngói hoặc vách nứa, mái tranh. Cũng có nơi bên cạnh nhà ở còn làm thêm nhà kho, chuồng gia súc và sàn nhỏ để phơi lúa. Bếp được đặt trong nhà hoặc có nhà bếp riêng sát ngay căn nhà ở.

Nhà phòng thủ được xây dựng theo kiểu pháo đài. Cả khu nhà gồm một căn nhà chính xây bằng đá hoặc đất, xung quanh là nhà phụ và các lô cốt. Tất cả các kiến trúc này được nối liền với nhau bằng những hành lang xây kín, có lỗ châu mai. Đôi nơi có kiểu nhà mà sàn gác hoặc trần nhà được trát một lớp đất để phòng hỏa hoạn.

Trước Cách mạng Tháng Tám, trong các thôn xóm ngoài các loại nhà trên đây, đã mọc lên những nhà gạch thậm chí có nhữg xóm nhà gạch chiếm da phần. Tùy từng gia đình, nhà có thể có hoặc không co trần. Cách bố trí bên trong đã thoát khỏi lối cổ truyền, hoàn toàn theo kiểu thành thị.

Cách xây dựng và bố trí bên trong nhà ở, tùy theo vung có một vài đặc điểm riêng, ở Cao Bằng bàn thờ tổ tiên đặt ở giữa nơi có vách ngăn đôi nhà, nhìn thẳng ra cửa chính. Phía sau bàn thờ là bếp. Chỗ ngủ của nam giới, chỗ tiếp khách nam thường ở phần ngoài. Chỗ ngủ của phụ nữ, chỗ tiếp khác của nữ thường ở phần trong. Phần lớn các chỗ ngủ, nhất là chỗ ngủ của nữ giới, đã được ngăn thành buồng riêng. Nhà ở vùng này có một nóc và sàn ở phía trước. Còn nhà ở Bắc Thái, Hà Tuyên, Hoàng Liên Sơn, phần lớn làm bằng gỗ, mái cọ, cửa chính thường mở ở phía đầu hồi, nhìn ra sàn. Bàn thờ đặt ở gian giữa hay gian cuối đối diện với gian có cửa. Nhà không có cột nóc mà chỉ chống nóc bằng trụ. Bếp gần như đặt ở giữa nhà. Chỗ ngủ có nơi làm thành buồng có nơi không.
Xưa kia, nhiều nhà sàn được xây dựng bằng những loại gỗ tốt như nghiến, trai, lim, lát …, bào trơn đóng bén. Không hiếm những căn nhà xây cất cách đây 3, 4 đời mà nay vẫn còn vững chắc.

Ngôi nhà của người Tày với những đặc điểm nếu cải tiến thêm chút ít, vẫn thích hợp vơi cuộc sống hiện tại. Cũng vì vậy, ở những nơi sẵn gỗ nhân dân vẫn làm nhà sàn, tuy nhiên mặt sàn làm thấp xuống, để nhà thoáng mát. Đối với phần lớn nhà đất bếp đã được tách ra khỏi nhà ở. Nhà gạch xuất hiện ngày càng nhiều với những tiện nghi mới.

Tại vùng cư trú của người Tày xưa kia có đình, chùa và hàng năm ở đó thường tổ chức hội hè. Tại nhiều nơi có trường học. Ngày xưa đồng bào còn xây dựng những cầu vòm bằng gỗ nghiến kiên cố, mái lợp ngói. Đó cũng là nơi trú chân cho người đi đường và chỗ nghỉ giữa buổi cho những người làm việc ở ngoài đồng.

Nam cũng như nữ người Tày chủ yếu mặc quần áo vài chàm, hầu như cùng một kiểu: áo dài năm thân, quần lá tọa. Đàn ông quấn khăn hay chít kiểu chữ nhân. áo nữ dài tới bắp chân, ống tay hẹp, xẻ nách phải, cài năm khuy. Vào những ngày hội hè người ta còn mặc áo cánh trắng ở trong có lẽ vì vậy người Tày còn được gọi là người áo trắng (cần slửa khao) để lại phân biệt với người Nùng thường chỉ mặc áo chàm. Phụ nữ còn thắt lưng bằng những tấm vải chàm hay đũi dài khoản hai sải tay làm tăng thêm vẻ duyên dáng nhất là đối với thanh nữ. ở một số nơi thuộc Hà Tuyên và Hoàng Liên Sơn chiếc áo dài nữ năm thân từ thắt lưng trở xuống làm bằng vải khác màu, chiếc áo này cũng thấy ở dân tộc Cao Lan – Sán Chỉ. Cho đến nay những vùng nay vẫn còn nhiều người mặc váy. Cách đây không lâu váy cũng phổ biến ở Cao Lạng và Bắc Thái, phụ nữ vấn tóc quanh đầu, lệch về một phía và trùm khăn vuông ở ngoài. Cách dùng khăn ở nhóm Thù Lao, Pa Dí lại có những nét độc đáo riêng. Tùy từng vùng trước đây chị em đội nón đan bằng giang, nứa lợp lá, nón đen sơn sáp ong. Hiện nay kiểu nón miền xuôi lại xuất hiện phổ biến. Cách trang sức phụ nữ Tày cũng giản đơn. Xưa kia chị em thường đeo vòng cổ, vòng tay, vòng chân và mang xà tích bằng bạc. Có người đeo khuyên vàng. ở một số vùng thuộc Hà Tuyên, phụ nữ có đeo tủi vải thêu hoa văn khi đi chợ. Đến nay quần áo phụ nữ Tày vẫn phổ biến nhất là trong những ngày lễ cổ truyền, nhưng áo cánh, áo sơ mi vẫn được nhiều thanh niên mặc.

Ngày Tày ăn ngày hai bữa chính có thể có bữa phụ vào buổi sáng sớm. ở đại đa số các vùng Tày đồng bào ăn gạo tẻ là chính, nếp thường dùng làm bánh, đồ xôi. Trong những ngày giáp hạt, ngô là lương thực quan trọng. Ngô được xay nhỏ nấu cháo bột, hoặc giã nhỏ nấu lẫn với cơm hoặc cháo. Thức ăn thường hay xào nấu, bên cậnh đó ở một số vùng đồng bào ưa thức ăn nướng trên than hồng hay gói lá vùi tro vóng. Ngoài rau, đậu, thức ăn còn có cá, trứng, đôi khi có thịt. ở Cao Lạng đàn ông hút thuốc lá, còn ở những nơi khác hút thuốc lào. Phụ nữ ăn trầu. Theo truyền thống khách đến nhà thường được đồng bào tiếp đón chu đáo.



Dân Tộc Tày<CÒN TIẾP

thanhruoi
09-09-2008, 09:57 PM
ở vùng Tày đường giao thông đã được mở mang ít nhiều. Từ các quốc lộ, đường về bản đều dễ đi lại. Trong những năm qua đồng bào đã bỏ ra nhiều công sức làm mới, tu sửa nhiều tuyến đường, nên ô tô đã có thể đến được cả những xóm thôn xa xôi hẻo lánh.

Phương tiện vận chuyển chủ yếu của người Tày trước đây là các thứ dùng để gánh gồm: dậu, xỏng, cuôi,…những thứ mang tính chất chung của các dân tộc thuộc nhóm Tày – Thái. Dậu thường dùng đựng thóc, xỏng dùng gánh bắp, đất và phân khô. Còn cuôi chỉ dùng gánh phân còn ướt. Tùy từng vùng mà dậu xỏng, được xâu những quai ngắn sau đó làm thêm quai dài hoặc cho vào quang để gánh. Tại những vùng gần sông suối, đồng bào còn chuyên chở bằng thuyền mảng. Ngựa thồ được dùng nhiều ở những vùng xa xôi hẻo lánh. Xe trâu được dùng ở những vùng có đường sá thuận tiện. Hiện nay thì ở khắp mọi nơi, xe đạp là phương tiện giao thông phổ biến.




ở người Tày xưa kia có tục cứ cuối năm, mỗi gia đình một người rủ nhau đi sửa đường, bắc lại cầu trong làng xóm của mình. Đồng bào tổ chức giúp đỡ lẫn nhau vận chuyển những thứ cần thiết trong sản xuất và xây dựng nhà cửa. Đó cũng là những dịp bà con gặp gỡ nhau bàn bạc những công việc chung của làng xóm. Nam nữ thanh niêm vui chơi ca hát sau mỗi buổi lao động. Trong điều kiện sản xuất cá thể tục lệ trên đã giúp đồng bào vượt được những khó khăn trong sản xuất và đời sống mà ngày nay nhiều nhân tố tích cực của nó vẫn còn được phát huy.

Quan hệ xã hội, hôn nhân, gia đình

Nhìn chung, xã hội Tày đã khá phát triển, nhưng không đều. ở vùng thấp, dọc các trục giao thông, trình độ phát triển về các mặt đã xấp xỉ miền xuôi, nhưng ở vùng giữa, vùng cao xa xôi hẻo lánh, các quan hệ phong kiến còn ở trình độ thấp, còn giữ lại nhiều tàn tích của các quan hệ xã hội thời xa xưa, phân hóa giai cấp chưa sâu sắc. Tổ chức xã hội kiểu ấy gọi là chế độ Quằng hay Thổ ty. Tổ chức này đã ra đời từ rất sớm, nhưng lại tồn tại dai dẳng, kéo dài mãi tới cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Sở dĩ như vậy, một phần vì sự phát triển nội tại của nó, mặt khác là do chính sách của nhà nước phong kiến Việt Nam. Mặc dù trên phạm vi toàn quốc, bộ máy hành chính nhất là từ thời Lê Thánh Tông trở đi, là thống nhất trên cơ sở trung ương tập quyền, thi hành chính sách áp bức thống trị nhân dân lao động, cũng bắt nhân dân ít người tuân theo luật lệ của triều đình, bắt nộp cống phẩm, thuế khóa, gánh vác các nghĩa vụ, phu phen tạp dịch…để phục vụ lợi ích giai cấp bóc lột, nhưng bản thân chúng không trực tiếp cai trị, mà thông qua bọn chúa đất, thổ tù (Quằng hay Thổ ty) biến họ thành những chức quan của triều đình để thống trị, bóc lột nhân dân địa phương. Để bọn thù trưởng trung thành với điều đình các vua thời ký thường gả công chúa và phong chức tước cho các tù trưởng người Tày. Nhiều tù trưởng vì thế đã trở thành phò mã hay quan chức thân cận của triều đình. Từ thời Lê trở đi triều đình phong kiến Việt Nam còn đặt ra các chức đoàn luyện, thủ ngự, trị châu, đại tri châu để bổ dụng các tù trưởng chúa đất người Tày. Một số tù trưởng có công còn được phong những tước cao như không bình chương sự, thượng tướng quân, đại tướng quân .v.v…

Các tù trưởng mang chức tước cao của triều đình tất nhiên phải phục tùng chính quyền trung ương về mặt chính trị và hàng năm phải nộp một số cống phẩm. Tuy vậy triều đình vẫn dành cho họ những quyền hạn rộng lớn ở địa phương; được quyền cai quản nhân dân địa phương theo phong tục tập quán riêng. Mặt khác, triều đình còn cử quan chức miền xuôi lên miền núi đề trực tiếp cai trị nhân dân. Bọn này thường mang theo họ hàng thân thích, lâu ngày đồng hóa với người Tày, trở thành một thứ quí tộc ở địa phương hoặc còn gọi là những lưu quan. Bọn thổ ty và lưu quan chia nhau cai quản từng vùng.

Đặc điểm nổi bật nhất của chế độ thổ ty là bọn quí tộc cha truyền con nối cai trị từng vùng được triều đình công nhận, nắm quyền sở hữu tốiđa đối với ruộng nương, rừng rú, suối sông và các nguồn tài nguyên khác trong vùng do mình kiểm soát, có quyền phân phối ruộng đất, mặc dù về nguyên tắc những cơ sở sản xuất này được coi là sở hữu công cộng của các công xã. Ruộng đất chia ra làm nhiều hạng. Hạng tốt nhất thường bị thổ ty chiếm lấy làm của riêng. Nhưng bản thân gia đình thổ ty chỉ tự canh tác những ruộng đất ở gần; còn ở các xã thì bắt nhân dân sở tại phải lao dịch không công, chúng qui định mỗi gia đình phải đóng góp số ngày công. Bọn tay chân của thổ ty và họ hàng của chúng cũng có quyền chiếm một số ruộng đất. Còn những người trong bộ máy phục dịch của thổ ty và lĩnh tráng tại ngũ cũng được một phần ruộng. Số còn lại, thường kém màu mỡ, canh tác khó khăn, được đem chia cho các gia đình. Nhưng trước đó, số ruộng này còn bị bớt lại một phần (gọi là một hua nà) cho những người làm nghề cúng ở đền miếu gọi là nà chùa, một số ruộng khác nữa dùng để trả công cho những người làm một công việc cụ thể mà thổ ty đã qui định. Ví dụ, người chuyên vót đũa cho thổ ty được một phần ruộng gọi là nà thú (ruộng đũa) người chuyên cúng cho gia đình thổ ty được nhận ruộng gọi là nà mo (ruộng cúng); nà toỏng quản cho người xem xét công việc ma chay khi trong nhà thổ ty có tang; nà thống lộng cho người chuyên làm than lót huyệt; nà rang cho người thay mặt con trai cả thổ ty trong tang lễ; nà pọng cho người phụ trách nấu nướng trong đám tang; nà mụ cho người chuyên đón dâu cho gia đình thổ ty; nà chép cho người chuyên ghi chép những người đem lễ vật đến nộp trong các dịp hiếu hỉ; nà bếp cho người chuyên hái rau (lúc ăn chay); nà cái lìn cho người chuyên bắc máng nước lần về nhà thổ ty…Kể ra có tới vài chục thứ ruộng như thế; nhưng diện tích không đều nhau, sản lượng từ vài gánh cho tới vài chục gánh. Số ruộng ấy không được đem làm của cải thừa kế, nghĩa là chỉ được canh tác khi còn làm một việc cụ thể cho gia đình thổ ty.

Về quan hệ bóc lột, hình thức chủ yếu mà thổ ty hoặc Quằng sử dụng là tô lao dịch và cống phẩm. Lao dịch lại chia làm nhiều hạng. Những nông dân tự do, thường có ruộng riêng để cày cấy, đời sống tương đối ổn định, có thể có một số gia đình khá giả, nhưng lại phải canh tác số ruộng của thổ ty đã chiếm trong thôn bản nào đó. Họ phải tổ chức thay phiên nhau hoàn thành tất cả các khâu canh tác từ cày cấy, bón phân, làm cỏ cho tới khi gặt đập, cho thóc vào kho (ở địa phận nào cũng có kho thóc của thổ ty). Hình thức này gọi là khẩu phướn. ở những miền xa hơn, hẻo lánh hơn, thường không có ruộng riêng của thổ ty, và cư dân ở đấy thường bao gồm nhiều thành phần khác nhau, thì người ta phải thay phiên nhau đến phục dịch, sản xuất tại nhà thổ ty, mỗi phiên như vậy thường gồm vài chục người làm trong một tuần hoặc chục ngày; những người này, trong quan hệ với thổ ty gọi là lục rượn (người nhà). Ngoài ra, ngay trong gia đình thổ ty có từ vài chục tới hàng trăm người phục vụ, họ phải hoàn thành các công việc từ nội trợ cho tới các công việc đồng áng: những người này thường xuất thân từ lớp người quá nghèo, nợ nần không phải trả được hoặc phạm tội. Trong quan hệ với thổ ty họ là lục khỏi (tôi tớ hay gia nô). Gia nô không được chút quyền tư do, họ có thể lấy vợ lấy chống, nhưng con sinh ra đều phải chịu số phận như bố mẹ chúng.

Ngoài ra, địa phương nào có thứ gì quí như cốm, mật ong, mật gấu, hổ cốt, hươu, nai, tôm cá .v.v…đều phải nộp cho chúng, với tính cách là cống phẩm.

Để bảo vệ quyền lợi, đảm bảo sự thống trị bóc lột của mình đối với quần chúng lao động, bọn thổ ty thường tổ chức ra một đội quân. Lực lượng vũ trang này được phân ra làm hai đội gọi là đội nội và đội ngoại. Đội nội có nhiệm vụ canh phòng bảo vệ gia đình thổ ty; đội ngoại có nhiệm vụ bảo vệ trị an trong vùng khi cần thì phải giúp triều đình đi đánh dẹp. Nó cũng được chia ra làm tiền, tả, hữu, hậu và trung quân. Thời bình thổ ty cũng thi hành chính sách “ngụ binh ư nông”, khi lâm sư mới tập hợp lại; hàng năm có diễn tập ôn luyện. Thổ ty trực tiếp chỉ huy quân đội. Bên cạnh đó chúng còn định ra các lệ luật, hình phạt.

Để tỏ uy thế, quyền hành của mình, thổ ty còn qui định không ai có quyền làm nhà to và đẹp bằng căn nhà của thổ ty. Hàng năm vào dịp lễ tết, đặc biệt trong lễ tảo mộ, chúng bắt nhân dân trong vùng đem theo lễ vật đến để tảo mộ cho nhà thổ ty trước khi làm lễ tảo mộ ở gia đình mình. Đang đi thấy thổ ty phải phủ phục cạnh đường, chỉ khi đi qua mới được đứng lên; đi ngang qua nhà thổ ty phải ngả nón, mũ tỏ ý kính trọng. Giai cấp thống trị còn định ra cách thức trang phục khác nhau giữa thổ ty và dân thường. Chúng còn bắt nhân dân phải gọi là chẩu mường, chiềng cần, quằng (đối với bản thân thổ ty), chiềng nàng, chiềng á (đối với vợ, con dâu thổ ty), phè (đối với con gái), chiềng hầu, ông báo (con trai thổ ty).

Đi tới đâu, thổ ty đều mang theo các thủ hạ, sách nhiều nhân dân, bắt người ta phải phục vụ, phải góp tiền của để chúng ăn chơi phè phỡn.

Nhưng từ giữa thế kỷ XIX chế độ quằng, thổ ty đã tan rã, chỉ trừ một số vùng hẻo lánh, như vùng giáp nhau của ba tỉnh Cao Lạng, Bắc Thái, Hà Tuyên. Còn ở các nơi khác quan hệ xã hội – Kinh tế đã phát triển cao, phân hóa giai cấp đã sâu sắc. Về mặt tổ chức hành chính, Việt Bắc nằm trong hệ thống chung của cả nước, phân cấp quản lý theo nguyên tắc lãnh thổ; các tỉnh, châu huyện, tổng xã được định rõ; đứng đầu các tỉnh thường là quan chức người việt hay tày, nhưng từ cấp phủ, châu huyện đến tổng xã thường do người địa phương nằm.

Từ khi thực dân Pháp đặt được ách thống trị ở nước ta, xã hội Tày, cũng như trong phạm vi toàn quốc, là chế độ thực dân nửa phong kiến. Nhưng bộ máy cai trị có đôi điểm khác nhau, tổ chức theo lối quân sự. Thực dân Pháp chia các tỉnh miền núi thành những đạo quân binh riêng. Đứng đầu mỗi tỉnh như vậy là một tên công sứ người Pháp, thường là trung tá hoặc đại tá, không những nắm quyền quân sự mà còn cả hành chính với một bộ máy giúp việc là người địa phương. ở châu huyện chúng đặt ra chức đại lý do một tên trung úy nắm để giám sát các công việc của bọn tay sai. Chúng thiết lập một hệ thống đồn bốt dày đặc và một hệ thống chỉ điểm từ tỉnh tới tận thôn xóm, một hệ thống nhà tù, trại giam…nhằm đàn áp các cuộc nổi dậy, đấu tranh của nhân dân.

Tuy thế, thực dân Pháp vẫn duy trì bộ máy thống trị trước đây, có điều chúng nắm tầng lớp thống trị địa phương một cách chặt chẽ hơn, tước bỏ một số đặc quyền của bọn này, như quyền tổ chức lực lượng võ trang, quản lý quân sự,…nhằm tránh những hiểm họa cho chúng. Tổng đốc, tuần phủ, án sát (ở tỉnh) Tri phủ, Tri Châu, Tri huyện, Tuần tổng, Bang tá (ở phủ huyện), chánh phó tổng, chánh phó lý, trương tuần, tổng đoàn, xã đoàn, trưởng thôn…trở thành những tay sai đắc lực cho thực dân Pháp, thông qua hệ thống tổ chức hành chính này thực dân Pháp nắm và cai trị nhân dân miền núi.

Về mặt kinh tế, thực dân Pháp duy trì và củng cố quan hệ bóc lột phong kiến sẵn có, kết hợp với bóc lột của đế quốc thực dân, củng cố giai cấp địa chủ phong kiến, tạo ra bọn cường hào gian ác làm chỗ dựa chính trị cho chúng. Bọn thực dân cũng ra sức chiếm đoạt ruộng đất, lập đồn điền trồng lúa hoặc cây công nghiệp. Vì dụ ở Tuyên Quang, từ năm 1897 đến 1914 chúng đã chiếm tới 18.832 hécta ruộng đất, lập ra 144 đồn điền; ở Thái Nguyên, đến 1913 chúng chiếm 39.749 hécta; ở Hà Giang chúng chiếm hơn 1.000 hécta. Quanh đồn Tà Lung (Cao Lạng) chúng đoạt mất ngót 700 hécta để trồng mía hoặc phát canh thu tô.

Để vơ vét tài nguyên, từ sau chiến tranh thế giới lần I, thực dân Pháp đã phát triển một số ngành khai khoáng. Cũng nhằm mục đích đó, chúng buộc phải mở các trục giao thông. Ngoài những đường sắt còn có các đường quốc lộ với một hệ thống đường tiểu mạch đến tận huyện, xã, trong đó có một số đường xe cơ giới có thể đi được. Những trục đường giao thông này ngoài mục đích quân sự, vơ vét tài nguyên giàu có của miền thượng du, cũng góp phần đẩy mạnh quá trình lưu thông hàng hóa, làm cho tính chất hàng hóa của sản xuất và trao đổi giữa các vùng được tăng cường.

Bọn thực dân Pháp đặt thêm nhiều thứ thuế với mức độ ngày càng nặng nề. Trước kia mỗi suất đinh chỉ phải nộp một quan tiền, trị giá 14 xu, nhưng trong thời thực dân phải đóng, lúc đầu là 0,50 đ, sau đó lên tới 2,00 đ rồi trên 3,00đ (trong khi 1kg thịt chỉ giá 8 xu hay 1 hào, một con vịt trị giá 5 xu). Tệ hại và dã man nhất là người đã chết, nhiều khi cũng không được miễn thuế, vì mức thuế đã phân bổ theo từng làng xã. Thuế điền thổ, tùy từng hạng, phải đóng từ 1đ tới 1đ50; thuế kiểm lâm cũng là một gánh nặng đối với nhân dân. Bên cạnh đó còn có các thuế phụ thu: thuế chợ, thuế đò, thuế rượu, thuế thuốc phiện, thuế sòng bạc… Ngoài ra, bọn chúng còn bóc lột nhân dân lao động bằng sưu dịch, phu phen. Lúc đầu chúng quy định hàng năm mỗi tráng đinh phải đi thu 48 ngày, sau đó rút xuống một nửa, nhưng 24 ngày ấy phải thay bằng tiền, rồi lại giảm xuống chỉ còn 20 ngày, nhưng lại phải nộp thuế thân thêm 2,00đ nữa.

Về văn hóa xã hội, bọn thực dân Pháp thực hành chính sách ngu dân thâm độc, kìm hãm nhân dân trong vòng tối tăm lạc hậu. Một mặt thì chúng cấm học chữ Hán, chữ Nôm; mặt khác lại mở rất ít trường dạy bằng chữ quốc ngữ. Chẳng hạn cả tỉnh Cao Bằng trước chỉ có 24 trường, trong đó 6 trường có đến lớp nhất còn các trường kia thì chỉ có lớp I, lớp II. Mỗi tỉnh có một bệnh viện với số giường bệnh rất hạn chế, chỉ phục vụ bọn thực dân và tay sai của chúng. ở các huyện đều có bệnh xá nhưng chủ yếu là nơi phát thuốc, phục vụ lính tráng và bọ công chức. Trái lại những tệ nạn xã hội lại được chúng khuyến khích, như rượu chè, cờ bạc, nghiện hút…Hậu quả là ngày càng bần cùng hóa nhân dân lao động và làm cho phân hóa xã hội thêm sâu sắc.

Nhưng sự phân hóa không đều. ở vùng thấp, địa chủ chiếm khoảng 3% dân số với khoảng 20 – 30% tổng diện tích ruộng đất; phú nông chiếm 3 – 4 % số hộ với khoảng 10% ruộng đất. ở vùng giữa, mức độ phân hóa thấp hơn, giai cấp bóc lột chỉ chiếm khoảng 1 – 2% số hộ với 6 – 10 % tổng số diện tích. Trong các thôn xóm vùng cao, hẻo lánh tuy không có địa chủ phú nông, nhưng những xóm làng này, như trên đã nói, lại nằm dưới quyền kiểm soát của bọ thổ ty, quằng còn rơi rớt lại, nên cư dân thường thuộc tầng lớp lệ nông, bán tự do, trong quan hệ với tầng lớp trên, họ là lục rượn, lục khỏi (người già, gia nô).

Trong tầng lớp trung nông, theo phân định trong cải cách dân chủ, cũng có trung nông trên, bình thường và trung nông dưới. Trung nông, nói chung, chiếm hầu hết cư dân trong thôn xóm. Họ có một số ruộng riêng để canh tác; nhưng thường thường chỉ có vài ba mẫu, ít thì một, hai mẫu; trâu bò có từ hai, ba đến vài chục con; với cơ sở sản xuất ấy đa phần các gia đình trung nông thường đủ ăn, một số có phần dư dật, cũng có những gia đình thiếu ăn từ một đến hai tháng, nhưng họ có thể vượt qua những khi thiếu đói dễ dàng vì chăn nuôi được nhiều, và có các hoa màu phụ (như ngô, mạch, khoai, sắn…). Trong tầng lớp trng nông cũng có sự phân hóa: một số thì ngày càng nghèo đi, trái lại, một số, ít hơn, ngày thêm khá giả…Bần nông, thường ít ruộng đất, trâu bò hơn trung nông, và thường thiếu đói từ hai đến bốn tháng. Họ thường phải nhận ruộng cầy rẽ. Cố nông hầu như không có. Thiều ruộng, trâu bò, họ có thể phát rừng làm rẫy, và phần nào nhận lĩnh canh theo lối tó còn (mỗi người một nửa). Có một số người chuyên làm thuê, nhưng thường chỉ trong từng vụ từng việc.

Trước cách mạng Tháng Tám trong xã hội người Tày còn bao gồm một số tầng lớp xã hội, có ít nhiều ảnh hưởng trong mọi mặt sinh hoạt của dân tộc. Trong thời phong kiến, do nho học được coi trọng, đã làm nảy nở lớp nho sĩ, chủ yếu là nho sĩ bình dân. Xuất thân không những từ tầng lớp trên, mà còn từ nhân dân lao động. Có người là quan chức trong bộ máy chính quyền phong kiến, có một số chuyên dạy học. Có thể nói, họ là những người am hiểu lịch sử dân tộc, lịch sử của địa phương, góp phần đáng kể vào việc xây dựng ngôn ngữ và văn học dân tộc. Đến nay còn lưu danh một số người có công xây dựng nền văn học thành văn của dân tộc Tày như Quỳnh Vân, Quản Nhạc, Hà Vũ Bảng, Lý Tế Khanh…(những người này đã đỗ tú tài thời Mạc). Tầng lớp này có quan hệ mật thiết với nhân dân và được quần chúng coi trọng. Từ khi Pháp xâm lược tầng lớp nho sĩ dần mai một đi do ảnh hưởng của văn hóa Phương Tây và do chính sách ngu dân của bọn thực dân. Tuy vậy, trong từng thời kỳ cũng có những nhà thờ mà nhiều người biết đến như Hoàng Đức Hậu (Đồ Hậu)…

Tầng lớp mo then, tào bụt cũng khá đông đảo. Bản thân những người làm nghề này cũng tham gia lao động sản xuất; họ thừa hưởng những kinh nghiệm, kiến thức của cha ông, nắm được phong tục tập quán dân tộc, nên trong các việc quan, hôn, tang, tế…nhân dân thường mời họ tới giúp. Những tầng lớp này thường bị bọn phong kiến thực dân lợi dụng để thống trị nhân dân về mặt tư tưởng, tinh thần.

Bên cạnh đó, trong giai cấp công nhân Việt Nam đã có những người xuất thân từ dân tộc Tày. Xuất thân từ nông dân, những người công nhân Tày có liên hệ chặt chẽ và có một ảnh hưởng to lớn trong nông dân lao động. Đó là một yếu tố làm cho nông dân lao động sớm giác ngộ và nhanh chóng tập họp lại dưới ngọn cờ cách mạng dân tộc dân chủ của Đảng.

Về mặt giác ngộ và tập hợp lực lượng theo ngọn cờ cách mạng của Đảng còn phải kể tới vai trò của những thanh niên học sinh của trường phổ thông mới lớn lên, xuất thân từ nhiều thành phần giai cấp khác nhau. Tầng lớp này, vào thời ấy, số lượng hãy còn ít, nhưng họ là những người hăng hái, sôi nổi, nhạy bén với thời cuộc; dễ tiếp thu những cái mới, sớm giác ngộ cách mạng. Được Đảng và Bác giáo dục rèn luyện, họ trở thành những cán bộ của Đảng.

Nhìn chung đã từ lâu ruộng đất, trừ rừng núi, đất hoang, sông ngòi, đồi cỏ .v.v…đều là của tư nhân, trở thành tài sản kế thừa cố định của gia đình. Số ruộng đất thì cố định, mà nhân khẩu không ngừng tăng lên, nên càng về sau bình quân ruộng đất của các gia đình giảm xuống. Nghiên cứu phân bố các khoảnh ruộng của từng gia đình trong thôn xóm, ta thấy chúng đã bị xáo trộn đáng kể. Nếu trước kia những đám ruộng của từng gia đình thường liền khoảnh thành những khu riêng thì nay có thêm những chủ ruộng thuộc các dòng họ khác nhau. Hiện tượng đất bị xâm canh đã khá phổ biến. Điều đó chứng tỏ ruộng đất đã được đem trao đổi, mua bán, cầm cố, tặng nhau. Tình trạng tranh chấp ruộng đất và giành giật nguồn nước trong thôn xóm, thậm chí trong dòng họ đã thấy phổ biến ở nhiều nơi. Bọn địa chủ phú nông, và cả tầng lớp khá giả hơn trong nông dân lao động nữa, thường bằng con đường cho vay lấy lãi dần dần tập trung vào trong tay mình nhiều ruộng đất và thường là ruộng tốt. Người vay, đến thời hạn do đôi bên thỏa thuận, bằng khế ước, mà không trả được nợ, buộc phải gán nợ bằng ruộng và thường là ruộng tốt (gọi là tểm nà srằy).

Rừng rú, đồi gò, đất hoang…Tuy vẫn được coi là của chung toàn bản, song mỗi gia đình thường chiếm làm của riêng để trồng một số cây lưu niên như trẩu, hồi, chè…hoặc trồng các loại cây mà hàng ngày cần dùng như mai, vầu, trúc, chuối, và các loại cây ăn quả (lê, mận, đào, cam, quít…).

Tuy nền tư hữu đã phát triển, nhưng công xã nông thôn vẫn tồn tại dưới dạng tàn tích. Vẫn như xưa, phạm vi của bản còn được xác định mà ai cũng biết, người bản này không thể tùy tiện phá rừng làm rẫy, khai thác nguồn lợi thiên nhiên của bản kia. Một số ruộng bị xâm canh, nhưng người chủ mới của số ruộng ấy thường phải tham gia đắp phai đập, khơi mương máng .v.v…sự phân hóa xã hội không ảnh hưởng gì mấy tới quan hệ giữa các gia đình trong chòm xóm. Là bà con làng giềng, sớm tối luôn có nhau, nên thường cưu mang lẫn nhau; ứng xử với nhau theo lối mầu dèn câu doài (hòn đá ném đi, hòn chì ném lại). Tục ngữ Tày có câu: Phì noọng tam tó, bó tay phì noọng só rườn (anh em ruột, không bằng bà con ở ngay bên cạnh). Sự trọ giúp lẫn nhau không phải chỉ trong mặt đời sống hàng ngày (như trong ma chay, cưới xin với các tổ chức phường, phe) mà còn trong sản xuất nữa; xưa nay người ta còn gọi đó là tục ván nà, ván slèng. Sự gắn bó, nương tựa nhau, một phần, ví nhu cầu bảo vệ lẫn nhau khi nền an ninh ở địa phương không đảm bảo, khi có trộm cướp. Do đó hình thức tự quản trong chòm xóm được duy trì ở mức độ nhất định. Xưa kia bản có thẩu (người đứng đầu bản), mường có chẩu (người đứng đầu mường). Thẩu bản, chẩu mường nắm luật tục, nắm cả nhân quyền và thần quyền; nhưng trước Cách mạng Tháng Tám ít lâu, do bộ máy hành chính của phong kiến thực dân đã với tận các chòm xóm, thẩu bản chỉ còn làm nhiệm vụ cúng bái trong bản như cúng thổ công, cúng ở đình, hòa giải xích mích, nhắc nhở bà con giữ tình thân thiện, tuân thủ các lệ tục của bản mường. Ông ta thường bàn bạc với các bô lão, những người có uy tín trong bản về các mặt của đời sống, như hô hào bà con bắc cầu, làm đường, đắp mương phai, sửa sang bản làng .v.v…Nhiều thẩu bản cũng là trưởng xóm giúp việc cho bọn lý dịch ở địa phương.

Nhưng tính cộng đồng của bản thôn còn biểu hiện mạnh mẽ hơn cả vẫn là trong các mặt sinh hoạt văn hóa tinh thần, như trong các lễ cúng bái, cầu mùa, hội hè…của toàn bản mà mọi người tham gia với cả nhiệt tâm.

Cũng nhằm mục đích đoàn kết, tương trợ nhau trong đời sống ở người Tày thường có tục kết bạn (hắt tồng) không những với người cùng dân tộc mà còn với cả người các dân tộc khác nữa, không những trong địa phương mình mà còn với người ở địa phương khác, có khi ở cách xa hàng ngày đường.

Cùng với sự phát triển của chế độ tư hữu, quan hệ gia đình cũng đã đạt được những bước tiến lớn lao. Cho tới Cách mạng Tháng Tám ở người Tày hầu như đã vắng bóng hẳn kiểu gia đình lớn, con cháu nhiều đời chung sống với nhau dưới một mái nhà. Gia đình nhỏ phụ quyền vừa là tế bào xã hội, vừa là một đơn vị kinh tế, thường bao gồm cặp vợ chồng và con cái của họ. Cũng có thể trong gia đình kiểu này còn bao gồm cả bố mẹ già, các em trai chưa vợ, các em gái chưa chồng nữa.
Chủ gia đình thường là người chồng, điều khiển mọi công việc sản xuất, tổ chức sinh hoạt, có trách nhiệm cúng bái và là người đại diện gia đình trong quan hệ với người ngoài, tham gia bàn bạc giải quyết các công việc của bản thân, có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục và dựng vợ gả chồng cho con cái. Tuy vậy, điều đó không có nghĩa là người gia trưởng chuyên quyền độc đoán. Người vợ cũng có một vai trò quan trọng, hỗ trợ chồng trong mọi công việc sản xuất, có trách nhiệm chính trong việc nội trợ, quản lý tài sản, nuôi dạy con cái.

Tính chất phụ quyền trong gia đình người Tày thể hiện rõ ràng trong quan hệ giữa các thành viên như vợ phải nghe lời chồng. Giữa cô dâu và các bậc trên có sự cách biệt nghiêm ngặt, như không được ngồi ngang hàng, ăn cùng mâm, ngồi cùng chiếu với bố, anh chồng, không được tới chỗ ngủ và nơi dành riêng cho bố, chú, bác, anh, chồng. Đó là biểu hiện của lễ giáo phong kiến.

CÒN TIÊP:Dân Tộc Tày

thanhruoi
09-09-2008, 09:58 PM
Cũng như bất cứ xã hội phụ quyền nào, người Tày thường quý trọng con trai hơn. Người ta mong muốn có con trai duy trì tôn thống, tức là trên để tế tự tổ tiên, dưới để lưu truyền huyết thống; để kế thừa tài sản, câu thành gnữ của người Tày : “nhình đại, chài ớ!” nói lên một cách đầy đủ tinh thần tôn trọng nam khinh nữ. “Giá thôi!” (nhình đại) biểu hiẹn lòng buồn rầu khi trả lời một người nào đó hỏi thăm tới; trái lại, “trai đấy” (chài ớ) biểu hiện lòng hớn hở, tự hào. Lúc còn nhỏ các con ở chung với bố mẹ, khi lớn lên, thành hôn, bố mẹ cho ra ở riêng, chia cho một phần gia sản. Gia sản thường chia đều nhau, bố mẹ cho ra ở riêng, chia cho một phần gia sản. Gia sản thường chia đều nhau, bố mẹ giữ lại một phần, nhiều ít tùy ý, phần này được đem gộp vào phần của người con trai mà bố mẹ sẽ cùng sống cho đến lúc về già. Người con trai này không những phải phụng dưỡng khi bố mẹ già yếu, mà con phải cùng bái sau khi bố mẹ khuất bòng. Thường thường con trai trưởng lãnh lấy trách nhiệm này và thường được các em tôn trọng. Con gái không được hưởng gia sản, trừ một số mà cha mẹ làm của hồi môn, đôi khi được một con trâu, nếu gần thì được thêm thửa ruộng…Những gia đình không có con trai, thường cưới rể đời cho con gái. Con rể có khi không cần phải đổi họ, nhưng con theo họ mẹ và được hưởng gia sản, thờ phụng tổ tiên nhà vợ.

Sự phân công lao động theo giới và tuổi tác có thể đã từng tồn tại lâu trong xã hội và gia đình người Tày. Khi hỏi thăm sản phụ người ta thường dùng câu hỏi: “đánh cá hay hái rau?” (tức pia su kết phjắc?) hoặc cầm bút hay kim chỉ? (cặm bút sụ khêm mây?) thay cho câu: “con trai hay con gái?”. Điều đó chứng tỏ có sự phân công và địa vị của từng giới trong sinh hoạt, sản xuất đã được xác định. Các cô gái chưa chồng, nhờ phong tục tương đối phóng khoáng của xã hội, không bị ràng buộc như các cô gái người Việt. Ngoài những công việc chung của gia đình, các cô gái được phép phát nương riêng để trồng bông dệt vải, trồng ngô lúa, chăn nuôi riêng con lợn hoặc đàn gà…để gây vốn riêng; được tự do đi chợ, dự hội hè, tìm hiểu yêu đương, ít bị cha mẹ ngăn cấm và dư luận xã hội lên án. Trước đây một số các cô gái được đi học, nhưng chỉ đến mức biết đọc biết viết thôi. Từ khi có chữ quốc ngữ, số nữ được đi học nhiều hơn, phần lớn số đó sau này trở thành những phần tử tích cực trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và trong kháng chiến chống thực dân Pháp.

Do chế độ tư hữu đã phát triển, những tiểu gia đình trong một dòng họ ít có quan hệ với nhau về mặt kinh tế. Nhưng ai cũng mong muốn duy trì quan hệ dòng tọc, biểu hiẹn ở sự đoàn kết, đùm bọc, bảo ban nhau trong sinh hoạt hàng ngày, ở tục tảo mộ (mộ tổ) chung mà ta còn thấy ở nhiều địa phương. Bóng dáng của người trưởng tộc đã mờ nhạt lắm, nhưng người đàn ông cao tuổi nắm được lai lịch dòng tộc, có nhiều kinh nghiệm vẫn được cả dòng họ tôn trọng, quí mến, được các gia đình mời đến chủ trì các lễ nghi ma chay, cưới xin, chứng kiến việc chia gia tài. Có họ, người tộc trưởng được hưởng một số ruộng hương hảo, có trách nhiệm cúng giỗ tổ tiên chung cho cả dòng họ. Những người trong một dòng họ có nghĩa vụ bảo vệ lẫn nhau. Các gia đình trong một chi thường thường làm nhà cạnh nhau.

Do chế độ phụ quyền đã thống trị từ lâu, lại được các quan hệ phong kiến củng cố, nên anh em bên ngoại không thân thiết bằng bên nội, mặc dầu vãn được trọng vọng. Vai trò của ông cậu đã mờ nhạt đi nhiều. Nhưng những chú bác ruột thì lại có đủ quyền lực và phải có nghĩa vụ đỡ đầu các cháu nội, nhất là lúc chúng bị mồ côi cả cha lẫn mẹ, phải nuôi nấng, dạy bảo, dựng vợ gả chồng và ngược lại, các cháu nội (con của anh em trai) cũng có trách nhiệm đối với chú bác nội; nếu chú bác không có con thì phải có phụng dưỡng khi già yếu, lo toan việc tang ma khi các bậc ấy khuất bóng, và được kế thừa tài sản của chú bác.

Cũng như ở người Việt sự phân biệt trưởng thứ đã rõ rệt, con chú nhiều tuổi hơn vẫn phải gọi con bác ít tuổi hơn là anh là chị.

Vấn đề giáo dục trong gia đình rất được coi trọng, không những nuôi dưỡng lúc còn trẻ thơ mà còn lo xây dựng gia đình, cơ ngơi cho các con, có như vậy đến ngày “ra đi” mới thật yên tâm. Phần nào vì lẽ đó vẫn để dựng vợ gả chồng sớm được đặt ra.

Trước kia, vấn đề này được đặt ra khi con cái vừa đến tuổi 14, 15, có khi sớm hơn, nhưng đến tuổi 17, 18 mới tổ chức cưới. Nhưng cô dâu chưa về ở hẳn nhà chồng sau lễ cưới, mà thường đi lại hai bên gia đình trong một thời gian, có khi tới vài ba năm, đến khi sắp đẻ con đầu lòng mới về hẳn.

Thanh niên nam nữ trong các dịp hội hè, đình đám, tết nhất, trong các ngày chợ phiên, thường gặp gỡ nhau, tổ chức hát lượn (hát ví) tỏ tình với nhau…nhiều trường hợp về sau đã nên vợ nên chồng, nhưng thường phải được sự đồng ý của bố mẹ và số mệnh tương hợp. Do vậy hôn nhân không phải vì tình yêu trai gái, mà là nhằm mục đích được qui định bởi quan hệ xã hội gia đình. ở đây nổi bật lên lòng mong muốn duy trì huyết thống và thừa kế gia sản. Hôn nhân trở thành công việc hệ trọng của gia đình, gia tộc. Vì nền đạo lý phong kiến trọng nam khinh nữ, do đó, mặc dù chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã bền vững, nhưng vẫn bị vi phạm. Người không có con trai thường có ý định cưới vợ lẽ và người phụ nữ buộc phải thừa nhận điều đó là chính đáng. Không những thế mà còn có nhiệm vụ tìm hỏi vợ lẽ cho chồng. Nhưng phần lớn những trường hợp này rơi vào tầng lớp trên, nhất là những kẻ có quyền thế. Còn trong nông dân lao động thì thường nhận con của anh em trai về nuôi và phải được coi như con đẻ. Bất đắc dĩ họ mới phải nhận con nuôi họ khác.

Xây dựng trên cơ sở tư hữu tài sản, quan hệ hôn nhân của người Tày mang tính chất mua bán rõ rệt. Người ta thường không sao dứt ra được những điều tính toán lợi hại về cơ sở kinh tế và địa vị xã hội, nghĩa là xét xem có môn đăng hộ đối hay không. Nhà gái bao giờ cũng mong muốn và tự hào con mình đã được gả, làm ăn ở gia đình tương đối khẩm khá và nhà trai cũng lấy làm vinh hạnh, khi được cô dâu lắm của hồi môn. Tính chất mua bán của hôn nhân thường lộ ra, trở nên công khai trong cuộc mà cả giữa đại diện nhà giá và nhà trai. Người con gái được đánh giá bằng các khoản tiền bạc, rượu thịt, tặng phẩm .v.v…Thành ngữ: “Khai lục nhình”(bán con giá) rất phổ biến trong người Tày, một lần nữa chứng tỏ tính chất đó.

Khi đã thành gia thất, vợ chồng thương yêu nhau thật sự, cùng nhau chăm lo công việc, nuôi dạy con cái, phụng dưỡng bố mẹ già, ít khi xảy ra ly hôn. Điều đó chứng tỏ hôn nhân một vọ một chồng đã bền vững. Làng xóm thường chê cười, lên án những đôi vợ chồng ăn ở không hòa thuận hoặc thiếu lòng thủy chung. Trong trường hợp ly hôn, nếu vợ đặt vấn đề trước, cô ta phải trả lại nhà chồng một số tiền bạc tương đương với trị giá của các khỏan phí tổn cho hôn lễ. Nếu chồng chủ động trong việc này thì phải phân đôi tài sản và đền bù một số tiền gọi là tiền “rửa mặt” (dào nả) cho nhà gái. Số con cũng được chia đôi.

Đã từ lâu ở rể không còn là một tục nữa, nhưng đôi khi vẫn còn có hình thức ở rể tạm thời (khươi chượng lạo) khi bố mẹ vợ già yếu, các em trai còn nhỏ. Những trường hợp ấy chủ yếu do thông cảm lẫn nhau của đôi bên gia đình; hoặc rể đời (khươi thú phi) khi bên nhà gái không có con trai.

Trước đây, người Tày chủ yếu dựng vợ gả chồng trong nội bộ dân tộc mình, nhưng cấm chỉ quan hệ hôn nhân trong cùng dòng họ, trừ họ xa, khác chi. Những kể loạn luân bị trị tội nặng, phải làm lễ giải tội trước tổ tiên. Kết hôn với những người trùng họ cũng không được người Tày ưu thích. Hầu như không có trường hợp chồng chết vợ lấy anh em trai; nhưng đôi khi có những trường hợp như vậy, song người ta cho rằng nó không phù hợp với luân thường đạo lý. Người ta cũng không đồng tình với việc hai anh em lấy vợ trong cùng một họ, hoặc hai chị em ruột cùng về làm dâu trong một chi họ.

Đời sống tinh thần

Đời sống tinh thần của người Tày khá phong phú và đa dạng, bao gồm nhiều yếu tố tích cực, trong sáng, lành mạnh cần được phát huy bên cạnh những yếu tố tiêu cực, lạc hậu cần được khắc phục.

Trước hết nói về tôn giáo tín ngưỡng là yếu tố chủ yếu, có tác dụng tiêu cực, nảy nở trên cơ sở nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu, khoa học kỹ thuật thấp kém, được bọn thống trị lợi dụng để phục vụ lợi ích của chúng . Cho nên bên cạnh những tàn dư của các hình thái tín ngưỡng nguyên thủy, như vật linh giáo, ma thuật, bài vật giáo (thờ hòn đá kỳ dị, cây đa to...), những lễ nghi liên quan tới nông nghiệp, săn bắn, đánh cá, các nghề nghiệp, các hình thái tôn giáo lớn của xã hội có giai cấp ngày càng thịnh hành. Những tôn giáo này không những không bài trừ mà còn kết hợp chặt chẽ với các hình thái cũ. Làm cho tôn giáo tín ngưỡng người Tày mang tính chất phức tạp.

Tiêu biểu nhất trong tôn giáo tín ngưỡng của người Tày là thờ cúng tổ tiên, bắt nguồn từ thờ cúng gia tộc, thị tộc ở giai đoạn thị tộc phát triển. Nhưng trong thời phong kiến, thờ cúng tổ tiên chỉ là hình thức, còn thực chất và nền tảng tư tưởng của nó là nhằm bảo vệ hế độ phụ quyền, tôn ti trật tự trong gia đình và ngoài xã hội, tức khẳng định chế độ quân chủ chuyên chế, khẳng định sự tề gia. Thờ cúng tổ tiên, vì vậy, vừa nhắc nhở con cháu là phải giữ gìn tôn thống, vừa khẳng định và củng cố nền tư hữu, tức kế thừa tài sản. Cho nên bàn thờ tổ tiên được đặt ở chỗ trang trọng nhất trong mỗi nhà, được trang hoàng đẹp nhất và thường để trên cao, ngàng xà nhà. Thờ cúng tổ tiên là nhiệm vụ của gia trưởng. Không kể các dịp tết lễ, người ta phải dâng hương hoa lễ vật mỗi tháng hai lần vào ngày mồng một và rằm. Bàn thờ được quét dọn sạch sẽ, thắp hương nhang, cúng chè rượu. Để tăng vẻ linh thiêng trang trọng, trước khi cúng chủ gia đình thường phải tắm gội, mặc quần áo chỉnh tề.

Mỗi khi trong gia đình có việc, như làm nhà mới, sinh đẻ, cưới dâu hoặc có người chết thì phải cúng bái, mời tổ tiên về chứng giám y như các bậc ấy còn sống vậy. Do tính chất trang trọng này, nên người ta thường cấm đoán phụ nữ, nhất là các con dâu, cháu dâu... tới gần bàn thờ. Khi gia chủ vắng nhà, người vợ phải sửa lễ, nhưng hiến tế cúng thì phải mời chú bác. Nhiều nơi, mỗi dịp như vậy người ta còn treo ở phía trước bàn thờ bức trướng hay rèm hoa mà cô dâu đem đến trong ngày cưới để tỏ thái độ thần phục của mình đối với dòng họ của chồng.

Trong phạm vi bản thôn còn thờ thần thổ công (Cốc bản), thổ địa, thờ các vị thánh ở trong vùng (mà họ gọi là s-lan). Thổ công có miếu thờ, đặt dưới một gốc cây to hoặc trong đám cây cổ thụ đầu làng. Ngoài ra, mỗi bản hoặc vài bản có một đình, thờ đủ các thần thánh, kể cả các thánh ở địa phương, những thánh thần này ngự tại một khu rừng hay trên một quả núi được gọi là rừng thánh, núi thánh (đông slấn, phia slấn). Người ta tổ chức cúng ở đình sau khi đã cày cấy xong (có thể ba năm mới cúng một lần), đại diện tất cả các gia đình đều phải đến và phải đóng góp gạo, rượu tiền để mua lễ vật (lợn, gà, vịt...), vào dịp ấy họ tổ chức ăn uống và họp bàn các công việc liên quan tơí thôn bản.

Phải nói rằng hệ thống điện thần của người Tày đã phát triển cao, có đủ mặt các vị từ Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, Thần Sông... cho tới các loại thần thánh ma quỉ ở địa phương. Hàng năm người ta tổ chức cúng vào mùa xuân, những dịp này thường gọi là hội xuống đồng (lồng thồng), hội trăng (hội hai), ra núi (óc pò)... Người ta tổ chức cúng trên một đám ruộng nhất định ở trước bản; mỗi gia đình sửa một mâm lễ, gồm thịt rượu, các loại bánh và xôi ngũ sắc đến cúng. Tuy cúng tất cả các thần thánh ma quỉ trên trời dưới đất... nhưng tính chất vui chơi giải trí... và cầu mùa là nội dung chủ yếu của ngày hội hè. Nếu không kể mặt mê tín, di đoan, thì đây là một dịp để củng cố tinh thần cộng đồng bản, tôn ti trật tự trong làng xóm. Những “kẻ cả” trong xóm thường thao túng những dịp đó để củng cố uy thế, địa vị của mình.

Với hệ thống tín ngưỡng như vậy đã sản sinh ra đủ các loại bói toán, cầu cúng... vừa phức tạp, vừa tốn kém... Hàng ngũ người làm nghề cúng bái càng thêm đông khi Tam giáo thâm nhập ngày càng sâu vào xã hội Tày. Tam giáo là những tôn giáo của xã hội có giai cấp, gồm có: Đạo giáo, Phật giáo và Khổng giáo. Nhiều gia đình người Tày thường thờ ngày Khổng Tử tại bàn thờ tổ tiên cùng với cả Phật bà Quan âm nữa. Tuy phân Tam giáo thành các Đạo giáo, Khổng giáo, Phật giáo, nhưng đó la cả một mớ hỗn độn trong quan niệm, hầu hết quần chúng không thể phân biệt được. Có thể luôn luôn tìm thấy trong các quan niệm, tập tục lễ nghi hàng loạt các yếu tố tam giáo. Chẳng hạn người ta làm dấu kiêng cữ khi nhà có người đẻ, không phải chỉ với nghĩa là không cho “vía độc” vào nhà, mà còn là để những nho sĩ, thầy cúng, thầy tào, bụt, then (mà đồng bào gọi lớp người tha slùng - mắt sáng, nhìn thấy ma quỉ thần thánh) khỏi vào chỗ mà học cho là không sạch, để họ hành nghề có kết quả, ngay trong đám cưới cũng vậy, trước lúc đi đón dâu người con trai phải lễ tổ, cô dâu đến cũng phải lễ tổ tiên, không những thế, mà còn phải lễ cả người sống nữa... Đặc biệt trong đám ma các yếu tố Tam giáo thể hiện ra càng rõ rệt. Quan niệm siêu linh tĩnh độ buộc người ta phải tổ chức lễ tang một cách phức tạp, phải làm những lễ phá ngục cứu hồn, làm lễ rửa tội, để hồn được lên thiên đường. Con cháu không chỉ phải làm lễ thụ tang (thành phục) mà còn bài văn than, từ bài thập nguyệt hoài thai, cho đến nhị thập tứ hiếu... phỏng theo Thọ mai gia lễ...

Từ khi thực dân Pháp đặt được ách thống trị ở nước ta, ở miền núi, nhất là ở các thị xã, thị trấn, một số nhà thờ Thiên chúa giáo mọc lên; ngoài người Việt, Hoa, nó cũng thu hút một số người Tày – Nùng. Tuy theo đạo, nhưng phần đông đồng bào không hiểu biết gì lắm về đạo, mà động cơ chính là vì kế sinh nhai, theo đạo có thể được lĩnh canh ruộng, đất của nhà chung, muốn được cha cố che chở, khỏi bọn cường hào ức hiếp...

Nếu gạt sang một bên tất cả những yếu tố tiêu cực, ta sẽ thấy không ít những yếu tố lành mạnh, trong sáng, thường chứa đựng trong các thể loại văn học nghệ thuật dân gian.

Trước hết phải kể tới kho tàng truyện thần thoại, cổ tích, trong đó, một số đã ra đời từ thời cổ như truyện Quả bầu, Pú luông – Già cải, Vua Dóng, Cẩu chủa cheng vừa, Nàng Khấy v.v... còn phần nhiều xuất hiện trong xã hội có giai cấp, mâu thuẫn đã gay gắt, đấu tranh trở nên quyết liệt, như truyện Cầu khây, Tua Nhi – Tua Gia, Thạch Sanh, Tổng lằn (trống lăn). Người lấy rắn, Bố vợ và chàng rể, truyện Nùng Trí Cao,... Một số truyện cổ tích nhằm giải thích một số hiện tượng thiên nhiên hoặc ghi lại sự kiện lịch sử, biết ơn những người có công xây dựng quê hương làng bản, giáo dục tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái giữa người với người. Những truyện kể ra đời vào các thời kỳ muộn hơn lại nhằm đả kích những bất công, thối nát của xã hội, phản ánh cuộc đấu tranh giữa chính nghĩa và bạo tàn, mà cuối cùng thắng lợi thuộc về chính nghĩa. Một số truyện kể nêu cao vai trò lao động, ca ngợi tài năng, trí tuệ v.v... Về sau một số truyện kể được ghi lại và được trình bày theo lối tiểu thuyết, nhưng bằng thơ theo thể thất ngôn trường thiên, một loại thơ rất thích hợp với lối kể lể, tự sự... Đó là những truyện thơ: Nam Kim- Thi Đan, Lương Quân Bióoc Rồm, Nàng bióoc Khọt, Phạm Tải – Ngọc Hoa, Lương Sơn Bá - Chúc Anh Đài, Trần Chu Quyền Vương, Quảng Trân – Ngọc Lương, Tống Trân – Cúc Hoa v.v...

Bên cạnh đó còn có một hàng loạt truyện cười, như truyện Kí màu (mưu mẹo – giải thích tại sao trâu chỉ có một hàm răng và có vằn... ), truyện Trâu ghét câu chuối, truyện Hổ và khỉ, Hổ với thỏ, Hổ với voi v.v...

Sinh hoạt của các loại truyện kể thật phong phú. Người ta có thể kể cho nhau nghe trong lúc lao động sản xuất hoặc trong những đêm đông quây quần bên bếp lửa hồng, trong các dịp lễ tết mà người đã được thoải mái nghỉ ngơi.

Phải nói rằng chiếm một khối lượng đáng kể trong vốn văn học nghệ thuật dân gian là những câu ca dao tục ngữ, có nội dung phản ánh mọi mặt đời sống, sinh hoạt của dân tộc, mục đích chủ yếu là giáo dục, khuyên răn, xây dựng con người.

Nhưng có lẽ các thể loại dân ca, trong đó chiếm hàng đầu là lượn phong phú hơn cả, phổ biến các lứa tuổi khác nhau. Có thể nói là lượn của ngừơi Tày gần như hát ví, hát ghẹo... của người Việt, là tiếng hát giao duyên của thanh niên nam nữ. Bằng lời ca điệu hát lượn nói lên tư tưởng, tình cảm, ước mơ và nguyện vọng của quần chúng lao động. Về mặt nội dung, hát lượn đề cập tới mọi mặt sinh hoạt, ca ngợi cảnh giàu đẹp của thiên nhiên, của quê hương xứ sở. Thông qua những bài ấy thanh niên nam nữ bắt đầu làm quen với nhau, mượn các tích truyện, cảnh vật, sinh hoạt hàng ngày để bày tỏ nỗi niềm tâm sự, mong muốn được yêu đương… Đối với người Tày, trước đây, khi đến một địa phương khác mà không được mời hát lượn đã làm “mất mặt”, nhưng còn đang xấu hổ hơn là được mời mà không biết hát.

Tuỳ từng địa phương có các điệu lượn khác nhau: lượn slương, lượn then, nàng hai, nàng ới ở Cao Lạng; lượn coi ở Hà Tuyên, Bắc Thái, Cao Lạng; điệu khắp ở Hoàng Liên Sơn… Địa điểm của những cuộc hát lượn thường không nhất định. Người ta chỉ hát lượn vào ban đêm trong những ngày xuân, những dịp hội hè, đình đám, lúc đến nghỉ đêm tại các địa phương khác; không được phép lựơn trong khi chòm xóm có tang mà. Những người trong cùng chòm xóm, hoặc ở các bản gần nhau cũng rất ít khi hát lượn với nhau. Lượn có trình tự và lề lối riêng. Thoạt tiên là những bài xin phép chủ nhà các bậc bô lão trong làng xóm; hát những bài đối đáp, chào nhau, thăm hỏi, chúc mừng nhau.

Gần gũi với lượn là các điệu “phuối pác”,”phuối rọi”. Điểm nổi bật nhất của thể loại này là đối đáp có vần điệu hoặc bằng thơ. Nội dung của nó cũng từa tựa như lượn; nhiều bài lượn có thể sử dụng làm bài “phuối rọi”, ngược lại không ít bài “phuối rọi” trở thành bài lượn. Sự khác nhau chỉ ở chỗ lượn có làn điệu tương đối ổn định, phuối pác diễn đạt theo lối nói có vần, chứ không như hát.

Trong các thể loại dân ca của người Tày còn phải kể tới phong slư. Có thể ví như các điệu ngâm thơ của người Việt. Sở dĩ gọi là “phong slư”, có lẽ, vì những bài thơ tình được viết và gửi cho nhau giữa thanh niên nam nữ. Thường thường nhiều bài phong slư rút từ trong các bài lượn ra. Càng về sau này phong slư là làn điệu được dùng nhiều để ngâm các bài thơ với những nội dung khác nhau theo thể trường thiên thất ngôn.

Ngoài ra, còn có các điệu then, ca cúng (trong đám ma, trong các hội xuống đồng (hội hai)… những bài văn than, những bài con ca (trong đám ma), những bài ca trong đám cưới (gọi là cỏ lầu) v.v… Những làn điệu này có rất nhiều biến thể tùy theo từng địa phương. Thể thơ được dùng trong các thể loại này thường là trường thiên thất ngôn, thơ tự do, ngũ ngôn…

Tuy các thể loại dân ca khá phát triển và phong phú, nhưng nhạc cụ lại nghèo nàn. Thuộc loại đàn dây chỉ có đàn tính; đôi nơi có nhị và đàn bầu; thuộc bộ gõ đánh có thanh la, não bạt, trống, chuông; thuộc bộ thổi bằng hơi có sáo, (pí lè) tiêu, kèn. Đôi khi có cả nhạc sóc nữa. Những nhạc cụ này cũng như một số điệu múa (múa chầu bụt, xiên tâng…) thường dùng trong cúng bái, tế lễ.

Ngoài những điệu múa vừa kể, trong các dịp tết lễ, hội hè, có các bài múa võ: múa côn, quyền, đao, kiếm, phi trùy, tay thước, thất tiết tiên, phi đao, phi tiêu… Người ta thường biểu diễn nó trong lúc vui chơi, lễ tết… Thật ra đây là những bài võ thuộc loại như quyền, chủ yếu dung để tự vệ, chúng phổ biến ở vùng biên giới. Đôi nơi có múa sư tử (long kỳ lằn).

Về các trò chơi giải trí, nếu không kể cờ tướng là môn tiêu khiển của tầng lớp trên, có trò giep đúm (tức còn), đánh cầu lông (tức diễn), đánh quay, đánh khăng, cướp pháo, kéo co v.v… Nhưng cũng chỉ thây trong các dịp hội xuân, tết Nguyên đán.

Nền y học dân gian đã khá phát triển; người Tày biết nhiều loại thuốc chữa các thứ bệnh, thuốc bổ. Tùy từng địa phương, đồng bào có các thứ thuốc chữa rắn rết cắn, có thuốc giải độc, nhiều người biết chữa bệnh bằng châm cứu, đốt… Còn các thứ thuốc chữa các bệnh thông thường như nhức đầu, sổ mũi. kiết lỵ, ỉa chảy, cam sài… thì ai cũng biết vài cây thuốc. Một số người biết các thứ thuốc hạn chế sinh đẻ. Lác đác có người biết thứ thuốc chữa cho những người mất khả năng sinh sản. Không những người ta dùng thuốc chữa bệnh cứu người, mà còn chống dịch bệnh cho gia súc nữa.

Do đời sống có phần sung túc, biết các thứ thuốc chữa bệnh, thuốc bổ, nên ở đồng bào Tày không phổ biến bạn hữu sinh vô dưỡng. Ngày nay một số cây thuốc bổ được trồng nhiều như tam thất, các loại sâm v.v…


*

* *

Phát huy tinh thần tình yêu nước vốn có, chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong cuộc đấu tranh lâu dài chống ngoại xâm, dân tộc Tày đã đạt được những thành tựu đáng kể trong công cuộc xây dựng đời sống mới, xã hội mới. Xóa bỏ được ách áp bức bóc lột, và do đó xóa bỏ luôn các giai cấp bóc lột, không còn mâu thuẫn đối kháng, quan hệ giữa người với người được kiến tạo trên cơ sở đoàn kết, tương thân tương ái, lao động trên cơ sở mục tiêu phấn đấu chung là xây dựng một xã hội xã hội chủ nghĩa, xã hội “làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng”, trên cơ sở nâng cao không ngừng mức sống của nhân dân. Ngày nay gần 95% hộ gia đình tham gia hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, nhiều hợp tác xã đã đạt năng suất trên 5 tấn/ 1 hécta, đời sống được cải thiện rõ rệt bằng con đường phát triển nông lâm nghiệp, chăn nuôi, trồng cây công nghiệp; thiếu đói trong các thời kỳ giáp hạt đang được đẩy lùi từng bước. Đời sống được nâng cao còn được biểu hiện trong các thành tựu của nghành văn hóa giáo dục y tế phòng bệnh. Nạn mù chữ đã được xóa bỏ từ lâu; ngày nay hệ thống giáo dục phổ thông được tăng cường mở rộng, ở xã có trường cấp I, cấp II, ở huyện có cấp III, hàng năm thu hút khoảng 20% người vào học, có nghĩa là cứ 5 người Tày thì có 1 người đi học. Từ tỉnh huyện cho tới xã đều có một hệ thống bệnh viện, bệnh xá và trạm xá, nhà hộ sinh, với những thiết bị, dụng cụ ngày càng thêm hiện đại.

Đội ngũ cán bộ cũng là một thước đo đối với sự phát triển mọi mặt của dân tộc Tày. Phần lớn cán bộ chủ chốt Đảng, chính quyền địa phương ở các cấp đều do người Tày hoặc Nùng tự đảm nhiệm. Hệ thống tổ chức của Đảng và các đoàn thể đã ăn sâu vào tận các xóm thôn, ngày càng được tăng cường và củng cố. Việc quản lý mọi mặt ở địa phương đã thu được những kết quả đáng phấn khởi, không những thế, các tỉnh Việt Bắc còn cung cấp nhiều cán bộ có năng lực lãnh đạo cho Trung ương, cho quân đội và cho các tỉnh bạn từ Bắc chí Nam. Những thành tựu này không thể tách rời sự lãnh đạo, giáo dục của Đảng thật sáng tạo và đúng đắn, và cũng chính tự đó mà Việt Bắc, nơi tụ cư chủ yếu của người Tày – Nùng, trở thành căn cứ địa cách mạng, căn cứ của các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đóng một vai trò quan trọng trong công cuộc kiến thiết và bảo vệ đất nước hiện nay cũng như mai sau.



HẾT......Dân Tộc Tày

thanhruoi
09-09-2008, 10:03 PM
http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/24848c 68faa5449f.gif (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2425)
Tên gọi khác Xa Điêng Nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer Dân số 50.000 người. Cư trú Cư trú tập trung tại 4 huyện phía Bắc tỉnh Sông Bé và một phần sinh sống ở Đồng Nai và Tây Ninh
Đặc điểm kinh tế

Nhóm Bù Đéc ở vùng thấp, biết làm ruộng nước và dùng trâu, bò kéo cày từ khá lâu. Nhóm Bù Lơ ở vùng cao, làm rẫy là chủ yếu, sống gần gũi với người M''Nông và người Mạ.

Tổ chức cộng đồng
Ngày nay người Xtiêng ở nhiều nơi đã định canh định cư, từng gia đình làm nhà ở riêng. Họ Điểu là họ phổ biến khắp vùng Xtiêng. Làng Xtiêng có truyền thống tự quản, đứng đầu là một ông già am hiểu tập tục, có uy tín lớn, tháo vát và thường là người giàu có ở làng. Mức giàu được tính bằng tài sản như: trâu, bò, chiêng, cồng, ché, vòng, trang sức...

Hôn nhân gia đình
Người Xtiêng lấy vợ, lấy chồng khác dòng họ. Thông thường con trai từ tuổi 19-20, con gái từ tuổi 15-17 bắt đầu tìm bạn đời. Sau lễ cưới cô dâu về nhà chồng.
VĂN HÓA
Người Xtiêng ưa thích âm nhạc, nhạc cụ thường thấy nhất là bộ chiêng 6 cái. Chiêng không được gõ ở ngoài nhà, trừ ngày lễ đâm trâu. Chiêng dùng trong hội lễ, cả trong bộc lộ tình cảm, hòa giải xích mích giữa các gia đình. Ngoài chiêng còn có cồng, khèn bầu cũng được đồng bào ưa thích. Cuối mùa khô, đồng bào hay chơi thả diều.

Nhà cửa
Tình hình nhà ở của người Xtiêng hiện nay hết sức phức tạp. Ví dụ: người Xtiêng ở Bù lơ sống trong nhà đất dài - gia đình lớn phụ hệ; Ơở Đắc Kia người Xtiêng cư trú trong nhà sàn, nhà đất ngắn - gia đình nhỏ; Ơở Bù Đeh người Xtiêng lại sống trong nhà sàn dài (chịu ảnh hưởng nhà người Khơ me) - gia đình lớn mẫu hệ.
Bộ khung nhà người Xtiêng dù nhà sàn hay đất (xưa) đều trên cơ sở vì hai cột (không có kèo).
Nếu căn cứ vào cấu tạo của bộ khung nhà đất của người Xtiêng hiện nay còn thấy thì nhà đất của người Xtiêng quả là rất cổ. Nhà đất của người Xtiêng chỉ như là một cái chòi, mái được kéo gần sát mặt đất. Cửa ra vào rất thấp. Mở ở hai đầu hồi và một cửa ở mặt trước nhà, mái trên cửa cũng phải cắt bớt hoặc làm vòng lên như ở nhà người Mạ.

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/24848c 6902fe1117.gif (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2426)
Trang phục của người Xtiêng khá đơn giản, đàn bà mặc váy, đàn ông đóng khố. Mùa đông người ta choàng một tấm vải để chống rét. Người Xtiêng để tóc dài búi sau gáy, tai sâu lỗ, hoa tai bằng gỗ, ngà voi và xăm mặt, xăm mình với những hoa văn giản đơn. Mọi người nam, nữ, già, trẻ đều thích đeo các loại vòng. Trẻ em còn nhỏ đeo lục lạc ở hai cổ chân


ST:

thanhruoi
17-09-2008, 01:23 PM
http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/24848d 0a0dfe4756.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2595)

Tên tự gọi: Ba Na.

Tên gọi khác: Bơ Nâm, Roh, Kon Kđe, Ala Kông, Kpang Kông...

Nhóm địa phương: Rơ Ngao, Rơ Lơng (hay Y Lăng), Tơ Lô, Gơ Lar Krem.

Dân số: 136.859 người.

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).

Lịch sử: Dân tộc Ba Na là một trong những cư dân sinh tụ lâu đời ở Trường Sơn - Tây Nguyên đã kiến lập nên nền văn hoá độc đáo ở đây. Họ là tộc người có dân số đông nhất, chiếm vị trí rất quan trọng trong các lĩnh vực văn hoá, xã hội ở các cao nguyên miền Trung nước ta.

Hoạt động sản xuất: Người Ba Na canh tác lúa trên ruộng khô và rẫy. Cái cuốc là công cụ chủ yếu trong canh tác nông nghiệp ở tộc người này. Với ruộng khô thì việc thâm canh không bỏ hóa là đặc điểm khác với rẫy. Ruộng khô thường ở vùng ven sông suối. Từ đầu thế kỷ XX, việc làm ruộng nước bằng cày đã ngày càng phát triển ở nhiều nơi. Vườn chuyên canh và vườn đa canh cũng xuất hiện từ lâu. Công việc chăn nuôi và các nghề thủ công như: đan, dệt, gốm, rèn còn chưa phát triển.


http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/24848d 0a15b54fac.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2596)Ðàn ông Ba Na đan lát thành thạo, tạo nên những sản phẩm đẹp và bền; các loại gùi, gió, đó, nón, chiếu... Người đàn ông trong ảnh đang đan nia.

Ở: Ðịa bàn cư trú của người Ba Na trải rộng trên các tỉnh Gia Lai, Kon Tum và miền Tây của Bình Ðịnh, Phú Yên và Khánh Hoà. Họ cư trú trên nhà sàn, cửa ra vào mở về phía mái, trên hai đầu đốc đều có trang trí hình sừng, ở giữa làng được xây cất một ngôi nhà công cộng - nhà làng, nhà rông với hai mái vồng và cao vút. Ðó là nhà khách của làng, nơi diễn ra mọi sinh hoạt chung của cộng đồng làng như giáo dục thanh thiếu niên, tổ chức nghi lễ, hội làng, xử án...

Quan hệ xã hội: Làng là đơn vị xã hội hoàn chỉnh và duy nhất. Tàn dư mẫu hệ vẫn thể hiện rõ trong quan hệ gia đình, tộc họ và trong hôn nhân. Sự tan rã của chế độ mẫu hệ ở đây đã nâng cao địa vị của nam giới nhưng phía mẹ vẫn gần gũi hơn. Sau hôn nhân còn phổ biến tập quán cư trú phía nhà vợ. Xã hội có người giàu, người nghèo và tôi tớ.


Mỗi làng thường có một vài máng nước phục vụ sinh hoạt. Nước được dẫn từ nguồn do mạch chảy ra. Hàng ngày, dân làng đến đây lấy nước về uống và nấu ăn. Mỗi lần, họ dùng nhiều vỏ bầu khô để chứa nước, gùi về dùng dần. Chủ yếu đây là việc của phụ nữ

Cưới xin: Hôn nhân một vợ, một chồng là nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng gia đình. Hình thức luân cư sau lễ cưới rất phổ biến. Kết thúc các chu kỳ luân cư (ở bên vợ rồi ở bên chồng) thì đôi vợ chồng ra ở riêng tạo lập cơ ngơi của một gia đình mới, một tế bào mới của cộng đồng làng.

Học: Việc giáo dục truyền thống cho thanh thiếu niên được tổ chức thường xuyên tại nhà làng (nhà rông) do các già làng đảm nhiệm. Ðó là nơi dạy nghề, huấn luyện chiến đấu và học tập các truyền thống văn hoá của cộng đồng làng.

Văn nghệ: Dân ca rất phong phú nhưng phổ biến là điệu hmon và roi. Nhạc cụ rất đa dạng gồm cả bộ dây, bộ hơi và bộ gõ. Múa dân gian Ba Na trong đó có múa phục vụ nghi lễ và biểu diễn ở hội hè được nhiều người ưa chuộng. Trường ca, Truyện cổ của dân tộc Ba Na cũng là những tác phẩm dân gian cổ truyền độc đáo, có giá trị trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.

Chơi: Phổ biến là các trò chơi: đuổi bắt (đru đra), cướp dây, hất đá, nhảy đập nhịp, thả diều, đá cầu, đi cà kheo, đánh quay, đánh vòng...





st

beptruong
17-09-2008, 02:04 PM
Hay đấy, post tiếp đi thanhruoi, đọc bài này có thể hiểu thêm vè nguồn gốc xuất xứ cũng như nét văn hóa của mỗi dân tộc, thanks ;)

thanhruoi
18-09-2008, 12:56 PM
Hay đấy, post tiếp đi thanhruoi, đọc bài này có thể hiểu thêm vè nguồn gốc xuất xứ cũng như nét văn hóa của mỗi dân tộc, thanks ;)

oke. bếp trưởng

thanhruoi
18-09-2008, 02:45 PM
http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/24848d 205a59d8f5.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2631)



Tên tự gọi: Bố Y.

Tên gọi khác: Chủng Chá, Trọng Gia...

Nhóm địa phương: Bố Y và Tu Dí.

Dân số: 1.420 người.

Ngôn ngữ: Nhóm Bố Y nói ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Ðai), còn nhóm Tu Dí nói ngôn ngữ Hán (ngữ hệ Hán - Tạng).

Lịch sử: Người Bố Y di cư từ Trung Quốc sang cách đây khoảng 150 năm.

Hoạt động sản xuất: Người Bố Y vốn giỏi làm ruộng nước nhưng đến Việt Nam cư trú ở vùng cao nên chủ yếu phải dựa vào canh tác nương rẫy và lấy ngô làm cây trồng chính. Bên cạnh đó mỗi gia đình thường có một mảnh vườn để trồng rau. Ngoài nuôi gia súc, gia cầm họ còn nuôi cá ruộng và biết làm nhiều nghề thủ công như dệt, rèn, gốm, đục đá, chạm bạc, đan lát, làm đồ gỗ...

Bộ nữ phục Bố Y có một nét đẹp riêng ở gam màu lạnh, lối tạo hoa văn bằng sáp ong trên váy và chiếc yếm dài trước ngực. Nghề dệt, nhuộm và may mặc truyền thống của họ đang bị mai một dần.

Ăn: Người Bố Y ăn ngô xay nhỏ đem luộc cho chín dở rồi mới đồ lên gọi là mèn mén.

Mặc: Trước đây, phụ nữ mặc váy xoè như váy của phụ nữ Hmông, váy được tạo hoa văn bằng cách bôi sáp ong lên mặt vải rồi đem nhuộm chàm. Áo ngắn 5 thân có ống tay rời, xiêm che ngực và bụng. Phụ nữ đeo trang sức bằng bạc gồm dây chuyền, vòng tay, khuyên tai; tóc được búi ngược lên đỉnh đầu, đội khăn chàm có thêu hoa văn bằng chỉ màu. Ngày nay, họ mặc giống như người Nùng trong cùng địa phương. Phụ nữ nhóm Tu Dí ăn mặc theo kiểu người Hán nhưng áo có ống tay rời.

Ở: Người Bố Y cư trú ở Quản Bạ (Hà Giang) và Mường Khương (Lào Cai). Họ ở nhà đất có 2 mái lợp gianh, gỗ hoặc ngói, tường đất trình. Nhà có 3 gian, có sàn gác trên quá giang là chỗ để lương thực và là chỗ ngủ của những người con trai chưa vợ.

Quan hệ xã hội: Có sự phân hoá giai cấp rõ rệt. Tầng lớp trên gồm trưởng bản (pin thàu) và người giúp việc (xéo phải).




http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/24848d 20662b8a05.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2632)
Cưới xin - Gồm 3 bước:

Bước 1: Nhà trai cử 2 bà mối sang nhà gái xin lá số cô gái về để so tuổi. Nhà gái thường tỏ thiện chí bằng cách tặng nhà trai 10 quả trứng gà nhuộm đỏ. Nếu thấy "hợp tuổi", nhà trai cử 2 ông mối sang trả lá số và xin "giá ăn hỏi".

Bước 2: Lễ ăn hỏi. Sau lễ này, hôn nhân của đôi trai gái coi như được định đoạt.

Bước 3: Lễ cưới. Nhà trai đưa sính lễ cho nhà gái. Ngoài một số thực phẩm còn có 1 bộ trang phục nữ. Chàng rể không đi đón dâu. Khi về nhà chồng, cô dâu cưỡi ngựa do em gái chồng dắt và mang theo một cái kéo, 1 con gà mái nhỏ để đến giữa đường thì thả vào rừng.

Sinh đẻ: Xưa kia, người phụ nữ có tục đẻ ngồi, cắt rốn cho trẻ bằng mảnh nứa, nhau (rau) chôn ngay dưới gầm giường. Khi đứa trẻ được 3 ngày làm lễ cúng mụ, đặt tên tục, đến khi được 2- 3 tuổi mới đặt tên chính thức. Nếu đứa trẻ hay ốm đau thì phải tìm bố nuôi cho vía của nó có chỗ nương tựa.

Ma chay: Ma chay là thể hiện tình cảm của người sống với người chết và đưa hồn người chết về quê cũ. Trước khi đưa đám bắn 4 phát súng, lúc khiêng quan tài cho chân người chết đi trước. Từ nhà đến huyệt phải nghỉ 3 lần (nếu vợ hoặc chồng còn sống) hoặc 4 lần (nếu vợ hoặc chồng đã chết). Người nhà để tang 3 năm, trong thời gian có tang con trai không được uống rượu, con gái không được đeo đồ trang sức, con cái không được lấy vợ, lấy chồng.

Thờ cúng: Trên bàn thờ đặt 3 bát hương thờ trời, táo quân và tổ tiên. Dưới gầm bàn thờ đặt một bát hương thờ thổ địa. Nếu bố mẹ vợ chết không có người thờ cúng thì con rể lập bàn thờ nhỏ cạnh cửa để thờ.



Ði chợ luôn là nhu cầu của cư dân vùng cao biên giới Việt - Trung, cả người trẻ lẫn người già. Phút nghỉ ngơi của người phụ nữ Bố Y (nhóm Tu Dí) trong buổi chợ

Lễ tết: Có nhiều Tết: Nguyên đán, Rằm tháng giêng, 30 tháng giêng, Hàn thực, Ðoan ngọ, Mùng 6 tháng 6, Rằm tháng 7, Cơm mới. Tết Cơm mới tổ chức vào tháng 8 hay tháng 9 âm lịch, có bánh chưng, bánh chay và xôi nhuộm màu.

Lịch: Người Bố Y tính ngày, tháng theo âm lịch.

Học: Trước đây có một số người dùng chữ Hán để ghi gia phả, viết bài cúng, làm lá số...

Văn nghệ: Ở nhóm Tu Dí thường hát đối đáp tại phiên chợ xuân hay tại nhà, lời ca bằng tiếng Hán, được phụ hoạ bằng kèn lá.

Chơi: Trong dịp hội hè, người Bố Y có các trò chơi đánh đu, cờ tướng, đánh quay, đánh khăng


http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/24848d 206f0a30d1.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2633)



Ði chợ luôn là nhu cầu của cư dân vùng cao biên giới Việt - Trung, cả người trẻ lẫn người già. Phút nghỉ ngơi của người phụ nữ Bố Y (nhóm Tu Dí) trong buổi chợ




theo:vietnamculture

tuyemthoi
19-09-2008, 11:39 AM
Lời giới thiệu:

ĐẠI GIA ĐÌNH CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM

1. Cả nước hiện có 54 dân tộc anh em.
Trong số 54 dân tộc, có những dân tộc vốn sinh ra và phát triển trên mảnh đất Việt Nam ngay từ thửa ban đầu, có những dân tộc từ nơi khác lần lượt di cư đến nước ta. Do vị trí nước ta giao lưu hết sức thuận lợi nên nhiều dân tộc ở các nước xung quanh vì nhiều nguyên nhân đã di cư từ Bắc xuống, từ Nam lên, từ Tây sang, chủ yếu từ Bắc xuống, rồi định cư trên lãnh thổ nước ta. Những đợt di cư nói trên kéo dài mãi cho đến trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thậm chí có bộ phận dân cư còn chuyển đến nước ta sau năm 1945. Ðây là những đợt di cư lẻ tẻ, bao gồm một số hộ gia đình đồng tộc.

Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, dân số giữa các dân tộc rất không đều nhau, có dân tộc có số dân trên một triệu người như Tày, Thái... nhưng cũng có dân tộc chỉ có vài trăm người như PuPéo, Rơ-măm, Brâu... Trong đó, dân tộc Kinh là dân tộc đa số, chiếm tỷ lệ lớn nhất trong dân cư nước ta, có trình độ phát triển cao hơn, là lực lượng đoàn kết, đóng vai trò chủ lực và đi đầu trong quá trình đấu tranh lâu dài dựng nước và giữ nước, góp phần to lớn vào việc hình thành, củng cố và phát triển cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Tuy số dân có sự chênh lệch đáng kể, nhưng các dân tộc vẫn coi nhau như anh em một nhà, quý trọng, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, chung sức xây dựng và bảo vệ tổ quốc, cả khi thuận lợi cũng như lúc khó khăn. Ở nước ta không có tình trạng dân tộc đa số cưỡng bức, đồng hoá, thôn tính các dân tộc ít người, do đó cũng không có tình trạng dân tộc ít người chống lại dân tộc đa số. Ngày nay, trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, các dân tộc anh em trên đất nước ta tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, tăng cường đoàn kết, nỗ lực phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

2. Các dân tộc trên đất nước ta có truyền thống đoàn kết trong đấu tranh dựng nước và giữ nước, xây dựng một cộng đồng dân tộc thống nhất.

Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, nhiều dân tộc có chung cội nguồn. Nói về nguồn gốc dân tộc Việt Nam đã có nhiều truyền thuyết như truyện "Quả bầu mẹ" giải thích các dân tộc có chung nguồn gốc; truyện "Ðôi chim" đẻ ra hàng trăm, hàng ngàn trứng nở ra người Kinh, người Mường, người Thái, người Khơ-mú...; truyện của dân tộc Ba-na, Ê-đê kể rằng người Kinh, người Thượng là anh em một nhà; đặc biệt là truyện Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng nở ra trăm người con, một nửa theo cha xuống biển trở thành người Kinh, một nửa theo mẹ lên núi thành các dân tộc thiểu số. Vua Hùng được coi là Tổ tiên chung của cả nước.

Còn các tài liệu lịch sử cũng cho thấy, người Việt, người Mường là con cháu của người Lạc Việt, là chủ nhân của nền văn hoá Ðông Sơn. Theo nhiều nhà nghiên cứu, việc tách nhóm Việt -Mường thành các dân tộc là một quá trình lâu dài, bắt đầu vào cuối thiên niên kỷ I, đầu thiên niên kỷ II sau công nguyên. Người Tày, Thái, Nùng là những bộ phận của người Tày, Thái cổ, trong quá trình lịch sử đã tách thành các dân tộc Tày, Thái, Nùng. Người H'mông, Dao xưa kia có cùng nguồn gốc, sau tách thành các dân tộc H'mông, Dao và Pà Thẻn.

Cũng có những dân tộc khác nhau về nguồn gốc lịch sử như các dân tộc La Hủ, Lô Lô, Vân Kiều, Sán Dìu...

Các dân tộc có cùng nguồn gốc lịch sử, có nhiều điểm tương đồng là điều kiện thuận lợi dễ gần gũi gắn bó với nhau. Song dù cùng hoặc không cùng một nguồn gốc sinh ra, có sự khác nhau về tâm lý, phong tục, tập quán... thì đều là người trong một nước, con trong một nhà, vận mệnh gắn chặt với nhau, các dân tộc nước ta luôn kề vai sát cánh bên nhau, thương yêu đùm bọc lẫn nhau.

Nước ta ở khu vực địa lý có nhiều thuận lợi song điều kiện tự nhiên cũng rất khắc nghiệt. Do nắng lắm mưa nhiều nên hàng năm thường bị hạn hán, lũ lụt. Do yêu cầu tồn tại và phát triển ở một nước nông nghiệp, trồng lúa nước là chính, cư dân ở Việt Nam phải liên kết nhau lại, hợp sức để khai phá đất hoang, chống thú dữ, xây dựng các hệ thống thuỷ lợi (mương, phai), đê, đập, nhằm đảm bảo phát triển sản xuất. Trải qua nhiều thế kỷ dựng nước và giữ nước, sự gắn bó, giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất của đồng bào các dân tộc đã được coi như một tiêu chuẩn đạo đức.

Ngày nay, trước những biến đổi bất lợi về khí hậu, thời tiết có tính toàn cầu, càng đòi hỏi nhân dân các dân tộc nước ta chung lòng hợp sức phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai cũng như khắc phục hậu quả do bão lụt, hạn hán gây ra. Cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên vẫn đòi hỏi tiếp tục phát huy sức mạnh của khối đoàn kết dân tộc và thông qua cuộc đấu tranh đó, đại gia đình các dân tộc Việt Nam càng thêm gắn bó chặt chẽ.

Cùng với lịch sử chinh phục thiên nhiên, nhân dân ta còn có lịch sử chống giặc ngoại xâm vô cùng oanh liệt. Ðất nước ta ở vào nơi thuận tiện trên trục đường giao thông Bắc - Nam, Ðông - Tây của thế giới, có tài nguyên thiên nhiên phong phú và vị trí địa lý - chính trị có tính chiến lược. Do đó, các thế lực bành trướng và xâm lược luôn nhòm ngó và tìm cách thôn tính nước ta. Ðặc điểm nổi bật của lịch sử Việt Nam là lịch sử chống ngoại xâm liên tục và nhiều lần, trong đó có nhiều cuộc đấu tranh chống lại những thế lực thù địch hùng mạnh, giàu có và hung bạo nhất thế giới. Chính vì vậy mà cộng đồng các dân tộc Việt Nam luôn sát cánh bên nhau, liên tục đứng lên chống giặc ngoại xâm, đánh thắng quân xâm lược.

Ðoàn kết trong lao động và trong chiến đấu là truyền thống nổi bật nhất của các dân tộc Việt Nam được hun đúc qua mấy ngàn năm lịch sử. Trong sự nghiệp cách mạng do Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, truyền thống đoàn kết dân tộc được phát huy cao độ, là một trong những nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta.

Những thành tựu đạt được trong quá trình đổi mới rất to lớn và đáng tự hào cho thấy khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta đã có tầm cao mới và chiều sâu mới, là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển của đất nước, làm cho thế và lực của cách mạng nước ta ngày càng được tăng cường.

Tuy vậy, bên cạnh mặt đoàn kết là cơ bản, có nơi, có lúc vẫn xẩy ra những va chạm trong quan hệ dân tộc, còn có những biểu hiện mặc cảm, thành kiến dân tộc. Chính vì thế ở một số nơi, các lực lượng thù địch đã lợi dụng để kích động chia rẽ dân tộc. Do đó việc tăng cường đoàn kết, nâng cao cảnh giác, kịp thời đập tan mọi âm mưu và hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc là nhiệm vụ của mỗi người dân Việt Nam.

3. Các dân tộc ở Việt Nam cư trú phân tán và xen kẽ nhau.

Ở một số vùng nhất định có dân tộc cư trú tương đối tập trung. Song nhìn chung các dân tộc nước ta sống xen kẽ nhau, không có lãnh thổ riêng biệt như một số nước trên thế giới. Ðịa bàn cư trú của người Kinh chủ yếu ở đồng bằng, ven biển và trung du; còn các dân tộc ít người cư trú chủ yếu ở các vùng miền núi và vùng cao, một số dân tộc như Khơ me, Hoa, một số ít vùng Chăm sống ở đồng bằng. Các dân tộc thiểu số có sự tập trung ở một số vùng, nhưng không cư trú thành những khu vực riêng biệt mà xen kẽ với các dân tộc khác trong phạm vi của tỉnh, huyện, xã và các bản mường. Cách đây chưa lâu (khoảng bốn, năm chục năm), Tây Nguyên nói chung, Ðắc Lắc nói riêng, hầu hết cư dân vẫn là người tại chỗ, mỗi dân tộc đều có khu vực cư trú riêng, ranh giới giữa các tộc người, giữa các bản làng còn rõ ràng thì nay tình hình đã khác xa và xu hướng này còn tiếp tục gia tăng. Hiện nay dân tộc Kinh cư trú ở Ðắc Lắc chiếm tỷ lệ khá lớn. Cùng với người Kinh, các dân tộc ít người miền Bắc gần đây cũng di chuyển vào khu vực này ( kể cả di chuyển theo kế hoạch và không kế hoạch) với số lượng khá lớn. Tới nay, ở miền núi hầu như không có tỉnh, huyện nào chỉ có một dân tộc cư trú. Nhiều tỉnh có tới trên 20 dân tộc cư trú như Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Lâm Ðồng... Phần lớn các huyện có từ 5 dân tộc trở lên cư trú. Nhiều xã, bản có tới 3-4 dân tộc cùng sinh sống.

Tình trạng cư trú phân tán, xen kẽ giữa các dân tộc ở nước ta, một mặt có điều kiện để tăng cường hiểu biết nhau, hoà hợp và xích lại gần nhau; mặt khác cần đề phòng trường hợp do chưa thật hiểu nhau, khác nhau về phong tục tập quán nên xuất hiện mâu thuẫn, tranh chấp về lợi ích, nhất là lợi ích kinh tế, dẫn đến va chạm giữa những người thuộc các dân tộc cùng sống trên một địa bàn. Ngày nay, tình trạng cư trú xen kẽ của các dân tộc chủ yếu dẫn tới sự giao lưu kinh tế - văn hoá giữa các dân tộc cũng như sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau. Do sống gần nhau, việc kết hôn giữa thanh niên nam nữ thuộc các dân tộc khác nhau ngày càng phổ biến, càng có thêm điều kiện đoàn kết và hoà hợp giữa các dân tộc anh em.

4. Các dân tộc ít người ở nước ta chủ yếu cư trú trên các vùng rừng núi, có vị trí quan trọng về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng, môi trường sinh thái.

Phần lớn các dân tộc ít người ở nước ta cư trú ở miền núi, chiếm 3/4 diện tích cả nước. Ðây là khu vực có tiềm năng phát triển kinh tế to lớn mà trước hết là tiềm lực về tài nguyên rừng và đất rừng. Không những thế, miền núi còn có vai trò đặc biệt quan trọng về môi trường sinh thái đối với cả nước như điều hoà khí hậu, điều tiết nguồn nước, bảo vệ lớp đất màu trong mùa mưa lũ.

Vị trí chiến lược quan trọng của miền núi đã được thực tế lịch sử khẳng định. Từ xưa đến nay, các thế lực thù địch bên ngoài đều sử dụng địa bàn miền núi để xâm lược, xâm nhập, phá hoại sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta.

Rừng núi đã từng là căn cứ địa cách mạng trong kháng chiến chống Pháp, Nhật, Mỹ. Trong giai đoạn hiện nay, miền núi - biên giới là thành luỹ vững chắc của Tổ quốc, là địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh trong việc bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, chống âm mưu xâm nhập, gây bạo loạn, lật đổ, bảo vệ sự nghiệp hoà bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Ở vùng biên giới, một số dân tộc có quan hệ đồng tộc với dân tộc của các nước láng giềng, nên khách quan có nhu cầu thăm thân, mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc ở hai bên biên giới. Bởi vậy, chính sách dân tộc của Ðảng và Nhà nước ta không chỉ vì lợi ích các dân tộc ít người mà còn vì lợi ích của cả nước, không chỉ là đối nội mà còn là đối ngoại, không chỉ về kinh tế -xã hội, mà cả về chính trị, quốc phòng, an ninh quốc gia.

5. Các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều nhau.

Do những nguyên nhân lịch sử, xã hội và hoàn cảnh tự nhiên nên các dân tộc ở Việt Nam có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều nhau. Các dân tộc sống ở vùng thấp có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn các dân tộc ít người sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao.

Có những dân tộc ít người có đời sống kinh tế - xã hội còn thấp kém. Nhiều dân tộc cư trú trên địa bàn có điều kiện tự nhiên hết sức khó khăn, khắc nghiệt. Ðiều kiện canh tác nương rẫy không ổn định nên đời sống của đồng bào thường bấp bênh. Cuộc sống du canh, du cư thường dẫn tới đói nghèo, bệnh tật.

Bên cạnh nguyên nhân lịch sử và hoàn cảnh tự nhiên, còn có nguyên nhân chủ yếu là do hậu quả của sự áp bức, bóc lột của chế độ thực dân, phong kiến và đất nước phải liên tục đối phó với chiến tranh xâm lược trong nhiều năm. Ðây là những nguồn gốc của sự không bình đẳng giữa các dân tộc trên thực tế. Giải quyết hậu quả lịch sử này phải có quá trình phấn đấu tích cực, bền bỉ, lâu dài mới làm cho các dân tộc từng bước tiến kịp trình độ chung.

6. Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất trong đa dạng, mỗi dân tộc anh em có những giá trị và sắc thái văn hoá riêng.

Cùng với nền văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, mỗi dân tộc đều có một nền văn hoá mang bản sắc riêng từ lâu đời, phản ánh truyền thống, lịch sử và niềm tự hào dân tộc. Bản sắc văn hoá dân tộc là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần, bao gồm tiếng nói, chữ viết, văn học, nghệ thuật, kiến trúc, y phục, tâm lý, tình cảm, phong tục, tập quán, tín ngưỡng... được sáng tạo trong quá trình phát triển lâu dài của lịch sử. Sự phát triển rực rỡ bản sắc văn hoá mỗi dân tộc càng làm phong phú nền văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Thống nhất trong đa dạng là nét riêng, độc đáo của nền văn hoá các dân tộc Việt Nam. Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam trong thời kỳ mới phải hướng vào việc củng cố và tăng cường sự thống nhất, nhân lên sức mạnh tinh thần chung của toàn dân tộc. Ðồng thời phải khai thác và phát triển mọi sắc thái và giá trị văn hoá của các dân tộc, đáp ứng nhu cầu văn hoá tinh thần ngày càng cao và nhu cầu phát triển từng dân tộc.
-----------------------------------------------

54 dân tộc Việt Nam
Xếp theo nhóm ngôn ngữ

Nhóm Việt-Mường: Chứt | Mường | Thổ | Việt (Kinh)

Nhóm Tày–Thái: Bố Y | Giáy | Lào | Lự | Nùng | Sán Chay | Tày | Thái

Nhóm Môn–Khmer: Ba Na | Brâu | Bru - Vân Kiều | Chơ-ro | Co | Cơ-ho | Cơ-tu | Giẻ-triêng | Hrê | Kháng | Khmer | Khơ-mú | Mạ | Mảng | M'Nông | Ơ-đu | Rơ-măm | Tà-Ôi | Xinh-mun | Xơ-đăng | Xtiêng

Nhóm H'Mông–Dao: Dao | H'Mông | Pà Thẻn

Nhóm Kadai: Cờ lao | La-chí | La ha | Pu péo

Nhóm Nam đảo: Chăm | Chu-ru | Ê-đê | Gia-rai | Ra-glai

Nhóm Hán: Hoa | Ngái | Sán dìu

Nhóm Tạng: Cống | Hà Nhì | La Hủ | Lô Lô | Phù Lá | Si La
---------------------------------------------------------

Mục Lục:
1 - Dân tộc Lự
2 - Dân tộc Khơ me
3 - Dân tộc Kháng
4 - Dân tộc Hà Nhì
5 - Dân tộc Si La
6 - Dân tộc Khơ Mú
7 - Dân tộc Giáy
8 - Dân tộc Thái
9 - Dân tộc Nùng
10 - Dân tộc Hmông (Mèo)
11 - Dân tộc Lô Lô
12 - Dân tộc Mường
13 - Dân tộc Bố Y
14 - Dân tộc Tày
15 - Dân tộc Tà Ôi
16 - Dân tộc Sán Dìu
17 - Dân tộc Pu Péo

Các tác giả, nếu thấy phần tư liệu nào của mình vui lòng email cho TET về địa chỉ: info@amthuc365. vn để mình cập nhật nhé, Thanks

Nhân đây xin được gửi lời cảm ơn tới Thanh Ruồi, người đã cho TET ý tưởng về một chủ đề hấp dẫn

------------------------------------------------------------
1 - Dân tộc Lự

Trong cộng đồng các dân tộc (DT) Tây Bắc, DT Lự thuộc nhóm những DT ít người nhất, dân số chưa đầy 5.000 khẩu, cư trú chủ yếu tại 2 huyện Sìn Hồ, Phong Thổ (Lai Châu) và một số ít ở tỉnh Điện Biên.

Lự là tên chính, tên tự gọi của đồng bào. Bên cạnh đó, DT Lự còn có những tên gọi như­: Nhuồn, Duồn... Ngoài ra, các DT khác gọi họ là: Tháy Lự, Tháy U, Tháy Sin, Tháy Hung... Tiếng Lự nằm trong nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, có chung sở thích sống cạnh sông suối, có kinh nghiệm canh tác lúa nư­ớc, rất giỏi bắt cá. Theo các nhà nghiên cứu: Vào thế kỷ thứ XII, những nhóm ng­ời Lự đầu tiên đã tới Điện Biên. Trải qua 19 đời chúa Lự thay nhau cát cứ vùng Mư­ờng Thanh (huyện Điện Biên), họ đã để lại các di tích như­ thành Tam Vạn (xã Sam Mứn ngày nay), các địa danh như­ Nà Lự (ruộng của ng­ười Lự).

Nghề dệt thổ cẩm của ng­ười Lự t­ương đối phát triển, mỗi gia đình thư­ờng có vài ba bộ khung cửi thủ công. Đa số phụ nữ ngư­ời Lự thành thạo các công việc tằm tang, canh cửi và tạo mẫu hoa văn trên nền vải nhuộm chàm. Ngôi nhà truyền thống của ng­ười Lự là nhà sàn, cột gỗ, lợp gianh; có cấu trúc mái tr­ước dài hơn mái sau, đủ che kín cả cầu thang. Mỗi ngôi nhà chỉ có duy nhất một cửa ra vào và nhất thiết cửa phải quay về h­ướng bắc, đó là dấu hiệu cơ bản để phân biệt với ngôi nhà sàn của DT Thái hoặc DT Lào. Giống như­ đồng bào Thái hoặc Khơ Mú, đồng bào Lự cũng chuộng cơm nếp hơn cơm tẻ; đặc biệt họ rất thích ăn cay, hầu như­ món ăn nào cũng ít nhiều có một chút ớt. Nếu nh­ư tr­ước kia, tục đeo gươm, xăm mình, để tóc, xâu tai và nhuộm răng phổ biến ở đàn ông Lự; thì bây giờ, ngư­ời Lự chỉ giữ lại tục nhuộm răng đen ở phụ nữ, các tục khác nói chung không còn. Trang phục nam giới có phần giản tiện, ngư­ợc lại, trang phục của phụ nữ tư­ơng đối cầu kỳ. Phụ nữ mặc áo ngắn, xẻ ngực, vạt trái đè lên vạt phải, đư­ợc buộc thắt bởi những tua rua sặc sỡ. Ngày th­ường các bà, các chị mặc loại váy chàm đen hoặc xanh, thêu móc đơn giản để thuận tiện công việc n­ương rẫy, hái l­ợm. Những dịp lễ tết, hội hè họ mặc váy 2 lớp, hoa văn 3 tầng trang trí đẹp mắt và hết sức công phu. Gia đình ngư­ời Lự tồn tại theo chế độ phụ quyền, tiếng nói ng­ười cha đư­ợc xem trọng hơn hết. Nếu cha chết, ngư­ời con trai cả nghiễm nhiên trở thành chủ nhân quán xuyến gia đình.

Hôn nhân ngư­ời Lự có nhiều nét tiến bộ, trai gái tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Khi một đứa trẻ sinh ra, tên đứa bé đ­ược đặt qua nghi lễ bói trứng, cái tên ấy đ­ược ghi vào mảnh vải và mảnh vải đó đư­ợc cất giữ như­ một bảo vật của gia đình. Ng­ười Lự có 3 họ chính: Họ Vàng, họ Tao và họ Lò, họ truyền theo nội tộc, đời này nối tiếp đời kia. Ng­ười Lự chỉ thay đổi tên gọi trong những tr­ường hợp bất đắc dĩ nh­ư: ốm nặng, rủi ro, hoạn nạn... Đồng bào quan niệm bằng vào việc đổi tên ấy sẽ “đánh lạc” đ­ược sự đeo bám, hãm hại của các thế lực thần linh, ma quỷ... Trong đám tang, họ nội mang khăn trắng và mổ trâu đen để làm lễ tiễn hồn ngư­ời xấu số, nếu mổ trâu trắng coi như­ phạm phải điều kiêng kỵ tối thiểu của luật tục.

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d32 cbad0800.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2664)

Trang phục của người Lự

Phong tục tập quán:

Theo đạo Phật, sau khi chôn cất người chết một thời gian, tang gia làm lễ đưa linh hồn người chết vào chùa. Ở nhà sàn, hai mái, có cửa ra vào ở hướng tây bắc. Trai gái tự do tìm hiểu rồi xin ý kiến cha mẹ để kết hôn, nhưng phải nhờ thầy số xem tuổi trước, nếu hợp tuổi mới lấy nhau. Con lấy họ theo cha, tên con trai có chữ đệm là Bạ, tên con gái có chữ đệm là Ý. Vợ chồng sống chung thủy, rất ít khi ly dị nhau.

Ngôn ngữ:
Thuộc hệ ngôn ngữ Tày - Thái.

Văn hóa:
Yêu thích vốn truyện cổ, thơ ca, tục ngữ, hay hát dân ca "khăp". Nhạc cụ là các loại sáo, nhị.

Trang phục:
Nam mặc quần, nữ mặc váy, áo và có hoa văn trang trí rực rỡ trên nền vải nhuộm chàm.

Kinh tế:
Làm ruộng từ lâu đời, trồng lúa nương, ngô, khoai, sắn, lạc, bông. Có tập quán ăn cơm nếp là chính, thích ăn ớt, ưa uống nước chè.

tuyemthoi
19-09-2008, 11:44 AM
2 - Dân tộc Khơ me

Hiện nay, dân tộc Khơ me có chừng 1.100.000 người, cư trú chủ yếu tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Người Khơ me còn có các tên gọi khác là: Cur, Cul, Thổ, Mên, Krôm...Nghề sống chính của người Khơ me là trồng trọt, lúa là loài cây lương thực chính; hoa màu được trồng trên cạn, gồm các loại ngô, khoai, đậu. Có nơi bà con chuyên trồng xoài. Đánh bắt hải sản là nghề phụ quan trọng của đa số cư dân trên đất liền. Các ngành nghề thủ công chủ yếu là đan mây tre, nghề dệt, gốm sứ, mộc, nề; đáng chú ý là nghề chế biến đường từ cây thốt nốt. Tiếng nói của người Khơ me thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me. Người Khơ me có chữ viết riêng, đây là dạng chữ Paly có nguồn gốc từ chữ ấn Độ cổ, được dùng chủ yếu trong sinh hoạt tín ngưỡng hoặc các hoạt động tôn giáo. Trong một số trường học có dạy xen chữ Khơ me với chữ phổ thông ở bậc tiểu học, nhưng gặp ít nhiều khó khăn vì sự khác nhau căn bản giữa hai loại chữ này.

Đồng bào Khơ me có một kho tàng văn học dân gian khá phong phú. Nghệ thuật dân gian Khơ me tập trung trang điểm cho những ngôi chùa với lối kiến trúc cầu kỳ và đẹp mắt. Tranh dân gian Khơ me màu sắc rực rỡ và thường liên quan đến Phật thoại, các truyện cổ tích về Bà -la - môn hay các tích được lấy trong trường ca Riên Kêr. Nghệ thuật múa cũng tương đối phát triển. Hôn nhân của người Khơ me theo chế độ một vợ một chồng bền vững, cư trú bên nhà chồng. Hình thức gia đình phổ biến là gia đình tiểu phụ quyền, con trai và con gái đều có quyền thừa kế tài sản như nhau. Con trai thường được giao cho nhà chùa để bồi dưỡng về tư tưởng Phật giáo.

Đạo Phật phái Tiểu thừa là tôn giáo chính thống của người Khơ me, được lưu truyền rộng rãi trong cộng đồng người Khơ me. Chùa của người Khơ me được xây dựng trong các phum, là nơi thờ Phật, nơi tu hành của thanh niên. Theo truyền thống, trước tuổi trưởng thành phần đông thanh niên đều phải trải qua một khoá tu hành ngắn hạn. Ngoài ra, chùa còn là nơi cất giữ hài cốt của các phật tử, nơi dân họp bàn những việc công ích, nơi đón tiếp khách quý của phum. Tại một số địa phương, chùa còn đảm nhiệm vai trò như một thư viện lưu giữ những pho sách cổ. Có người từng ví ngôi chùa là một “bảo tàng” thu nhỏ của người Khơ me.

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d32 e0d814bc.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2666)

Dân tộc Khơme sống tập trung tại các tỉnh Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Kiên Giang, An Giang. Trang phục cổ truyền của người Khơme có cá tính ở lối mặc váy và phong cách trang phục gắn với tín giáo đạo Phật.

Tên gọi khác: Cur, Cul, Cu, Thổ, Việt gốc Miên, Khơ me Krôm.

Nhóm ngôn ngữ: Môn - Khmer

Dân số: 1.000.000 người.

Cư trú: Sống tập trung tại các tỉnh Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Kiên Giang, An Giang.

Đặc điểm kinh tế:

Người Khmer đã biết thâm canh lúa nước từ lâu đời. Đồng bào biết chọn giống lúa, biết làm thủy lợi và lợi dụng thủy triều để thau chua, xổ phèn cải tạo đất, có địa phương trồng nhiều dưa hấu. Đồng bào cũng phát triển kinh tế toàn diện như chăn nuôi trâu bò để cày kéo, nuôi lợn, gà, vịt đàn, thả cá và phát triển các nghề thủ công như dệt, gốm, làm đường từ cây thốt nốt.

Văn hóa:

Từ lâu và hiện nay, chùa Khmer là tụ điểm sinh hoạt văn hóa - xã hội của đồng bào. Trong mỗi chùa có nhiều sư (gọi là các ông lục) và do sư cả đứng đầu. Thanh niên người Khmer trước khi trưởng thành thường đến chùa tu học để trau dồi đức hạnh và kiến thức. Hiện nay ở Nam Bộ có trên 400 chùa Khmer. Nhà chùa thường dạy kinh nghiệm sản xuất, dạy chữ Khmer.

Đồng bào Khmer có tiếng nói và chữ viết riêng, nhưng cùng chung một nền văn hóa, một lịch sử bảo vệ và xây dựng tổ quốc Việt Nam. Đồng bào Khmer sống xen kẽ với đồng bào Kinh, Hoa trong các phum, sóc, ấp.

Đồng bào Khmer Nam Bộ có nhiều phong tục tập quán và có nền văn hóa nghệ thuật rất độc đáo. Những chùa lớn thường có đội trống, kèn, đàn, có đội ghe ngo... Hàng năm người Khmer có nhiều ngày hội, ngày tết dân tộc.

Đồng bào Khmer có các ngày lễ lớn là Chôn Chơ nam thơ mây (năm mới), lễ Phật đản, lễ Đôn ta (xá tội vong nhân), Oóc bom boóc (cúng trăng).

Nhà cửa:

Người Khơ me vốn ở nhà sàn, nhưng nay nhà sàn chỉ còn lại rất ít ở dọc biên giới Việt - Campuchia và một số nhỏ trong các chùa phật giáo Khơ me là nơi hội họp sư sãi và tín đồ... Cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt của nhà Khơ me khá đơn giản

Nay số đông người Khơ me ở nhà đất. Bộ khung nhà đất được làm khá chắc chắn. Nhiều nơi làm theo kiểu vì kèo của nhà Việt cùng địa phương. Trong nhà được bài trí như sau: Nhà chia làm hai phần theo chiều ngang, một phần làm nơi ở, một phần dành cho bếp núc. Phần dành để ở lại chia thành hai phần theo chiều dọc: phần phía trước, ở giữa kê bàn ghế tiếp khách, bên cạnh thường có tủ kính đựng những chiếc gối thêu vừa để trang trí vừa tiện dùng có khách. Sau bộ bàn ghế tiếp khách là bàn thờ Phật. Nữa sau, bên phải là buồng của vợ chồng chủ nhà. Về bên trái là phòng con gái.

Trang phục:

Trang phục cổ truyền có cá tính ở lối mặc váy và phong cách trang phục gắn với tín giáo đạo Phật.

+ Trang phục nam
Thường nhật nam giới trung niên và người già thường mặc bộ bà ba đen, quấn khăn rằn trên đầu. Trong dịp lễ, tết họ mặc áo bà ba trắng, quần đen (hoặc áo đen, quàng khăn quàng trắng chéo ngang hông vắt lên vai trái. Trong đám cưới chú rể thường mặt bộ "xà rông" (hôl) và áo ngắn bỏ ngoài màu đỏ. Đây là loại áo xẻ ngực, cổ đứng cài cúc, quàng khăn trắng vắt qua vai trái và đeo thêm 'con dao cưới' (kầm pách) với ý nghĩa bảo vệ cô dâu. Thanh niên hiện nay khi ở nhà thường không mặc áo và quấn chiếc 'xà rông' kẻ sọc.

+ Trang phục nữ
Cách đây ba, bốn mươi năm phụ nữ Khơ Me Nam Bộ thường mặc 'xăm pốt' (váy). Đó là loại váy bằng tơ tằm, hình ống (kín). Chiếc váy điển hình là loại xăm pốt chân khen, một loại váy hở, quấn quanh thân nhưng khác nhiều tộc người khác cũng có loại váy này là cách mang váy vào thân. Đó là cách mang luồn giữa hai chân từ sau ra trước, rồi kéo lên dắt cạnh hông tạo thành như chiếc quần ngắn và rộng. Nếu cách tạo hình váy và một số mô tip hoa văn trên váy có thể có sự tiếp xúc với các tộc người khác thì cách mặc váy này có thể xem là đặc trưng độc đáo của Khơ Me Nam Bộ. Họ thường mặc váy trong những ngày lễ lớn, mỗi ngày mặc một màu khác nhau trong suốt tuần lễ đó. Đó là loại xăm pốt pha muông.

Ngày nay các loại trên ít thấy, có khả chăng chỉ trên sân khấu cổ truyền mà thôi. Người Khơ Me có kỹ thuật nhuộm vải đen tuyền bóng lâu phai từ quả mặc lưa để may trang phục. Thường nhật hiện nay người Khơ Me ảnh hưởng văn hóa Kinh qua trang phục. Trong lễ, Tết lại mặc loại áo dài giống người Chăm. Ngoài ra phụ nữ Khơ Me còn phổ biến loại khăn Krama dệt ô vuông màu xanh, đỏ trên nền trắng. Ngày cưới các cô dâu thường mặc chiếc xăm pốt hôl màu tím sẫm hay hồng cánh sen, áo dài tăm pông màu đỏ thẩm, quàng khăn chéo qua người, đội mũ pkel plac hay loại mũ tháp nhọn nhiều tầng bằng kim loại hay giấy bồi.

tuyemthoi
19-09-2008, 11:48 AM
3 - Dân tộc Kháng

Với số dân chừng 11 nghìn người, dân tộc Kháng gồm các tên gọi: Xá Khao, Xá Xủa, Xá Don, Xá Dâng, Xá Hộc, Xá ái, Xá Bung và Quảng Lâm. Địa bàn cư trú của người Kháng chủ yếu tại 2 tỉnh Điện Biên và Sơn La, một số ít tại tỉnh Lai Châu.

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d32 eaeb1f26.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2667)

Phụ nữ Kháng

Với người Kháng, trồng trọt trên nương là hình thái kinh tế chủ đạo, lúa ruộng có nhưng không nhiều. Lúa nương nếp được bà con chuộng hơn cả. Đồng bào nuôi lợn, gà, vịt để ăn thịt là chính hoặc sử dụng trong ma chay, cưới hỏi... Đàn gia súc dùng trong sản xuất hoặc vận tải hàng hoá nông sản. Người Kháng có nhiều kinh nghiệm chế tạo thuyền độc mộc đuôi én. Thuyền làm ra vừa để dùng vừa để bán cho các dân tộc khác. Ngoài ra, phải kể đến kỹ thuật đan tre và song mây nổi tiếng của người Kháng; những chiếc bung, bem, coóng khẩu, mẹt... đạt đến trình độ cao của nghề đan, được nhiều dân tộc khác ưa chuộng. Hái lượm, săn bắn là công việc thường xuyên của đồng bào. Hàng ngày từ trên nương trở về, những người đàn ông thường có thứ gì đó góp vào bữa ăn gia đình; chẳng hạn như mấy con sóc, xâu cá suối, một ít ớt tươi, vài cái măng tre...

Tiếng nói người Kháng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me, đồng bào không có chữ viết riêng. Sự nghiệp giáo dục vùng dân tộc Kháng phát triển chậm, tỉ lệ trẻ em đến trường ở nhiều nơi chưa cao. Văn học dân gian của người Kháng khá phong phú, nội dung phản ánh đời sống văn hoá của một tộc người cư dân nông nghiệp miền núi, với những điều kiện sống còn nhiều khó khăn. Người Kháng cư trú theo từng bản, trong bản vai trò của thầy cúng hết sức quan trọng, được nhiều người tin theo.

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d32 ef7b247c.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2668)

Trang phục cổ truyền của người Kháng

Hôn nhân của người Kháng là hôn nhân tự nguyện, một vợ một chồng, phía con trai chủ động các bước cưới hỏi. Theo phong tục, sau khi cưới chàng rể phải ở rể một thời hạn nhất định, từ 1 đến 3 năm. Hết hạn ở rể, nhà trai tổ chức lễ đón dâu về bên nhà gái. Lúc này, việc sắm sửa vật dụng cho đôi vợ chồng trẻ, thuộc trách nhiệm của nhà gái. Gia đình truyền thống của người Kháng là mẫu tiểu gia đình phụ hệ, chú trọng bênh vực quyền lợi cho đàn ông và các con trai.

Xưa kia đồng bào Kháng quan niệm sở dĩ người ta sống được là nhờ có 5 hồn tất cả: Gồm 1 hồn chính ở trên đầu, 2 hồn ở 2 tay và 2 hồn ở 2 chân. Khi chết, 5 hồn biến thành 5 con ma; hồn đầu ở lại gia đình để phù hộ cho con cháu gặp nhiều may mắn, hồn tay phải thành ma trông coi mùa màng, hồn tay trái thành ma ở gốc cây làm quan tài, hồn chân phải thành ma trông coi phần mộ, hồn chân trái thành ma lang thang trong vũ trụ. Đồng bào Kháng có tục thờ ma nhà, có nghi lễ cúng ma đất, ma trời. Trong 3 ngày lễ, kiêng kị không cho ai ra khỏi bản, không cho người lạ vào trong bản.

tuyemthoi
19-09-2008, 11:54 AM
4 - Dân tộc Hà Nhì

Dân tộc Hà Nhì còn có hai tên gọi khác là Xá U Ní và U Ní. Song, nếu căn cứ vào trang phục, tập quán, ngôn ngữ và địa bàn sinh sống, thì người Hà Nhì được chia làm ba nhóm: Hà Nhì Cồ Chồ, Hà Nhì La Mí và Hà Nhì Đen. Hiện nay, dân số Hà Nhì khoảng 20.000 người, cư trú ở 3 tỉnh Lào Cai, Lai Châu và Điện Biên. Người Hà Nhì có tiếng nói riêng, thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng - Miến; tuy nhiên, tiếng nói của họ chưa đủ để phát triển thành chữ viết. Theo một truyền thuyết, xưa kia người Hà Nhì đã từng có chữ viết, nhưng trong lúc gian nguy vì quá tin lời kẻ ác, nên tổ tiên họ đã trót nuốt chữ vào bụng cả rồi...

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d33 016238c7.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2670)

Trong ngày lễ Tết, người dân Hà Nhì chơi trò nhảy gậy.


Dân tộc Hà Nhì có nhiều kinh nghiệm trong những công việc nông tang, đồng bào vừa giỏi chăn nuôi vừa giỏi trồng trọt, cả trồng ngô, trồng lúa lẫn trồng bông, trồng chàm, cả ở trên nương lẫn ở dưới ruộng. Họ biết cách khai khẩn đất đai, đào mương đắp đập, sử dụng sức kéo của trâu bò. Người Hà Nhì sống quây quần, đoàn kết, cá biệt có bản đông tới gần 100 gia đình. Dân tộc Hà Nhì vốn được xem là một dân tộc thông minh, cần cù, tự trọng và dễ tin người; nhưng, nếu đã bị phản bội dù chỉ một lần, thì vĩnh viễn không bao giờ họ tin lại nữa. Nhìn chung, đại đa số người Hà Nhì tự túc được vải mặc, bởi phụ nữ Hà Nhì rất chăm chỉ và giỏi việc canh cửi tằm tơ, họ tự đảm nhận mọi công đoạn cho đến lúc làm ra tấm vải.

Về tín ngưỡng, người Hà Nhì chủ yếu thờ cúng tổ tiên dòng họ nhà mình; các đấng thần phật được coi như không tồn tại trong đời sống tâm linh của bà con. Mỗi địa phương người Hà Nhì có một phong tục ma chay, cưới hỏi khác nhau. Với người Hà Nhì tỉnh Điện Biên, khi cha, mẹ chết thì buồng ngủ của người đó sẽ được rỡ bỏ toàn bộ hoặc từng phần; ít nhất cũng phải tháo rút tượng trưng vài tấm ván hoặc một bức vách nào đấy. Trước lúc phát tang ra bên ngoài, thì ở trong nhà bàn thờ của gia đình phải hạ xuống, cất đi. Thi hài người chết được đưa xuống bếp, đặt nằm tạm trên chiếc chõng mới làm, "đợi" đến ngày tốt và giờ tốt mới được đem chôn. Giờ "tốt" đó thường trùng với cái giờ lúc người chết tắt thở, đồng bào cho rằng nếu không thế thì người chết sẽ "tái sinh", đầu thai thành các giống vật hung dữ quay trở về nhiễu hại cuộc sống gia đình, làng bản. Ngoài một con gà nướng, được làm thịt bằng cách đập chết chứ không cắt tiết, người chết còn được cúng bằng một bát cơm và một quả trứng gà luộc. Cúng xong, mỗi thứ "để phần" người chết một ít, còn lại gia đình chia nhau ăn. Đó là bữa cơm "đoàn tụ" cuối cùng, để tiễn biệt người xấu số trước lúc họ mãi mãi đi xa. Trong đám tang, chỉ người anh hoặc em trai mẹ (tiếng Hà Nhì là gố gô) mới được quyền đứng chân chủ tế, và cũng chỉ ấy mới có quyền để tang. Tục lệ này chính là tàn dư của chế độ mẫu hệ còn rơi rớt lại, đặc biệt với nhóm Hà Nhì Cồ Chồ. Người Hà Nhì không làm nhà mồ và cũng không rào giậu xung quanh mộ, thay vào đó là những hòn đá xếp sơ sài, tạm bợ. Ngược lại, lúc lấp đất xuống huyệt họ lại làm rất từ từ, cẩn thận, tránh không lấp lẫn cỏ tươi xuống cùng. Theo quan niệm âm - dương tương khắc, người Hà Nhì cho rằng cỏ tươi là sự sống, mà sự sống thì không "ở chung" với cái chết…

Trai gái Hà Nhì được quyền tự do lựa chọn bạn đời và tự quyết định hôn nhân của mình. Ngay sau lần cưới thứ nhất, cô dâu được đổi họ theo bên chồng và về ở nhà chồng luôn; nhưng cũng có nơi, con trai lại phải ở rể nhà vợ. Thời gian ở rể dài hay ngắn tuỳ thuộc vào sự thoả thuận giữa hai họ, trên cơ sở những khó khăn và thuận lợi của nhà gái. Lần cưới thứ hai và cũng là lần cuối, được tổ chức vào một thời điểm thích hợp nhất, khi điều kiện kinh tế cho phép, thậm chí sau hàng chục năm chung sống. Lúc ấy dù họ chưa có con hay đã có con, có ít hay nhiều con, đông cháu, đều không quan hệ gì tới hôn lễ. Vợ chồng người Hà Nhì sống chung thuỷ, cùng có trách nhiệm trong việc phụng dưỡng cha mẹ hai bên, nuôi dạy con cái và chăm lo cuộc sống gia đình. Từ xưa, việc ly hôn được xem là vấn đề vô cùng hệ lụy, thuộc phạm trù đạo đức, ảnh hưởng xấu đến danh dự gia đình và uy tín dòng tộc; do vậy rất hiếm khi xảy ra.

Để phân biệt người Hà Nhì với người dân tộc khác, xin hãy quan sát trang phục của phụ nữ, nhất là phụ nữ chưa chồng. Với chiếc mũ - khăn được trang trí bởi nhiều cúc bạc, nhiều hạt cườm, nhiều tua rua bằng các loại chỉ màu sặc sỡ; thiếu nữ Hà Nhì gợi cho ta nhớ tới hình ảnh của những nhân vật nữ đài các, quyền uy, trong các truyền thuyết cổ xưa. Phụ nữ Hà Nhì mặc áo dài, 5 thân, xẻ từ sườn xuống chân, không chiết co như áo tân thời của phụ nữ người Kinh. Người Hà Nhì tự làm lấy váy áo cho mình, bằng vải bông nhuộm chàm màu đen, màu xanh hoặc bằng vải láng. Vào những dịp lễ tết, hội hè, họ mặc thêm áo ngắn kiểu gilê ở bên ngoài. Trên ngực áo, phía phải, gắn thêm những đồng xu bằng bạc hoặc cúc bằng nhôm. Khăn, ngực áo và hai ống tay áo, là nơi để chị em phô diễn kỹ nghệ thêu móc và trình độ thẩm mỹ của mình; thông qua cách bố trí các khoanh vải có màu sắc tương phản nhau, cùng những đường nét hoa văn bổ trợ cho nhau.

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d33 06e4df8b.gif (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2672)

Thiếu nữ Hà Nhì ở Mường Tè- Lai Châu

Dân tộc Hà Nhì có một nền văn hoá - văn nghệ lâu đời, đa dạng và đậm đà bản sắc; bao gồm nhiều loại bài hát, nhiều điệu dân vũ, nhiều kiểu nhạc cụ và rất nhiều tác phẩm văn học dân gian. Về hát, có hát ru con, hát đối đáp, hát mời rượu, hát đưa ma, hát chào khách, hát mừng nhà mới và đặc biệt là bài hát dùng trong đám cưới có độ dài hơn 400 câu, của người Hà Nhì ở vùng cao Mường Nhé - Điện Biên. Về múa có các điệu: Múa lên nương, múa dệt vải, múa đợi mưa, múa vào mùa, múa trông trăng, múa giã bạn…Về nhạc cụ, có trống, thanh la, chập cheng, am ba, tu huý, khèn lá, đàn môi, tiêu trúc (4 lỗ), nát xi, la khư và điển hình là đàn nét đu - loại đàn 4 dây hoà âm, mang tên một loài hoa rừng màu tím. Về văn học, người Hà Nhì có rất nhiều truyện cổ tích, thần thoại, trường ca, truyện thơ, ca dao, thành ngữ, tục ngữ… Song, đến nay, hầu hết các loại hình văn hoá kể trên vẫn chưa được sưu tầm, tập hợp dưới hình thức nghiên cứu, lưu giữ. Cùng với thời gian, chúng đang dần dần bị lai tạp và bị lãng quên một cách thật đáng tiếc. Lấy ví dụ như trường ca trữ tình LHá Pà Dí, hiện giờ, ngay cả với người Hà Nhì thì cũng còn rất ít các lão nghệ nhân trên dưới 70 tuổi, mới thực sự biết diễn xướng đúng cách. Vậy một mai khi thế hệ các cụ lần lượt qua đời, liệu trường ca ấy có thoát khỏi số phận bị thất truyền?…

Tết cổ truyền của dân tộc Hà Nhì

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d34 be82155c.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2688)

Thiếu nữ Hà Nhì thêu váy áo chuẩn bị chơi xuân.

Người Hà Nhì tính lịch theo mặt trăng, như chúng ta thường gọi đó là Âm lịch. Lịch của người Hà Nhì mỗi năm gồm 12 tháng, tháng ít có 29 ngày, tháng nhiều có 30 ngày. Tết Có Nhẹ Chà là Tết Nguyên Đán của người Hà Nhì, diễn ra trước Tết Nguyên Đán của người Kinh chừng trên dưới hai tháng. Thời điểm đó là lúc thư nhàn nhất của người dân Hà Nhì nói riêng và người dân miền núi nói chung; mọi công việc đồng áng của vụ trước đã gọn ghẽ, xong xuôi, mà vụ sau thì chưa đến lúc bắt đầu.

Việc ăn Tết vào những ngày nào (cuối tháng 10 hay đầu tháng 11) không ấn định thành truyền thống như Tết của người Kinh, mà do Hội đồng già làng, trưởng bản bàn bạc và thống nhất để áp dụng cho từng năm; dựa trên các yếu tố: Thời tiết, mùa màng, khả năng kinh tế chung của mỗi gia đình... Sau khi thời điểm đã được xác định, theo phong tục, buổi chiều hôm tất niên mỗi gia đình mổ một con gà để cúng tiễn biệt năm cũ. Đêm hôm đó được coi là đêm Giao thừa, khắp làng bản Hà Nhì tiếng giã bánh dầy, bánh trôi làm rung động cả một vùng rừng núi. Vào lúc đầu canh ba, nhà nhà thi nhau mổ lợn. Gọi là "thi" vì người Hà Nhì quan niệm nhà nào mổ lợn xong sớm, chọc tiết lợn một lần là được ngày, thì sang năm sẽ phát tài phát lộc, cuộc sống no ấm, con cháu sum vầy. Thịt lợn được pha chế thành 3 thứ: xương riêng, nạc riêng và mỡ riêng. Bánh trôi chấm với mật o­ng rừng tinh khiết, màu hổ phách, dẻo như tơ, ngọt mà không khé, mùi thơm thật khó tả. Bánh chưng của người Hà Nhì được thay bằng bánh gù, hình ống, dài hơn một gang tay. Gia đình nào cũng nhồi lạp xường, lạp xường của người Hà Nhì ngon thơm đặc biệt, do có nhiều loại gia vị được chiết xuất từ các loài thảo mộc.

Trong mấy ngày Tết, những người cao tuổi lập thành nhóm, nhóm này đi chúc Tết gia đình của nhóm kia, họ này đi chúc Tết họ kia, với những lời lẽ tốt đẹp và tình cảm chân thành. Tại bữa tiệc khoản đãi, người khách quý nhất sẽ được mời một mâm riêng. Trên mâm, một bên bày 6 chén rượu: 4 chén để "rửa" 4 chân tay, 1 chén "rửa" mặt còn 1 chén để uống. Một bên đặt 1 giỏ cơm, xung quanh giỏ cắm hoa mào gà, trong giỏ cơm có 1 khoanh thịt mỡ đã luộc chín, giữa khoanh thịt mỡ nhét sẵn mấy quả ớt đỏ. Người khách được quyền tự do lựa chọn, hoặc bên này hoặc bên kia. Sau khi chọn xong "phần" của mình, người khách vui vẻ đặt lên mâm mấy đồng tiền mừng tuổi rồi hát một bài, lời tự biên, mang nội dung cám ơn và cầu mong điều may mắn, hạnh phúc cho gia chủ.

Tết Nguyên Đán của đồng bào Hà Nhì diễn ra chừng 1 tuần lễ. Suốt 1 tuần đó, ngày cũng như đêm, khắp trong bản ngoài mường đâu đâu cũng tưng bừng, nhộn nhịp. Khi các bậc trưởng lão ngồi cạnh nhau bên mâm rượu, để ôn lại những câu chuyện về lai lịch dòng tộc từ 9, 10 đời trước; hoặc nói với nhau những ước nguyện sâu xa về dâu hiền cháu thảo, về kinh nghiệm mùa màng... Thì ở ngoài trời, các loại trống, chiêng, đàn, sáo cùng rộn rã vang lên. Trong bộ trang phục truyền thống đẹp nhất của mình, từng đôi nam thanh nữ tú tay giấu trong tay, mắt soi vào mắt, cùng say sưa nhảy những điệu sơn vũ được lưu truyền từ muôn kiếp cha ông. Sau những trò chơi đố lá dang dở, sau những cuộc hát đối nửa chừng và cuối cùng là sau những ngày vui Tết, rất nhiều lứa đôi đã trở nên tâm đầu ý hợp, thầm mong ngày "buộc chỉ cổ tay"...

Nhân mùa xuân mới, xin có lời mời bạn bốn phương lên thăm tỉnh Điện Biên, thăm đồng bào Hà Nhì ở tít nơi thượng nguồn biên ải. Rồi, ngay trong bữa rượu kết giao, bạn sẽ có hạnh phúc được tự mình thưởng thức cái hay cái đẹp của trường ca trữ tình LHáPàDí. Trước khi kề lên môi bát rượu nếp đầu Xuân thơm nồng mùi men lá, lòng bạn hẳn đã say mềm bởi câu chuyện của các già làng: Rằng, cách đây chừng 3 thế kỷ rưỡi, những người Hà Nhì đầu tiên đã rời Lục Xuân và Kim Bình (Vân Nam - Trung Quốc), để bồng bế nhau sang các nước Đông Dương. Cùng với đoàn người di thực ấy, tổ tiên chúng tôi đã đến đây rồi ở lại đây...

* Thời chống Mỹ cứu nước, xã Chung Chải (huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên) đã được phong tặng danh hiệu: " Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân". Đó là một xã vùng cao, toàn người Hà Nhì, nằm trên vùng tam giác biên giới Việt - Trung - Lào.

Cư trú:
Ở các tỉnh Lai Châu và Lào Cai

Đặc điểm kinh tế

Nguồn gốc chính của đồng bào là trồng lúa, có nơi làm ruộng, có nơi làm nương rẫy. Hà Nhì là một trong những dân tộc có truyền thống khai khẩn ruộng bậc thang và đào mương đắp đập lấy nước, dùng trâu bò cày kéo và làm vườn cạnh nhà...

Chăn nuôi là một nghề phát triển. Các nghề thủ công như đan lát, dệt vải cũng rất phổ biến. Phần đông người Hà Nhì tự túc được vải mặc.

Tổ chức cộng đồng

Người Hà Nhì hiện nay đã định cư, mỗi bản có khi đông tới 60 hộ. Người Hà Nhì có nhiều họ, mỗi họ gồm nhiều chi. Dịp tết hàng năm có tục cả dòng họ tụ tập lại nghe người già kể tộc phả của mình, có dòng họ nhớ được về xưa tới 40 đời.

Tên của người Hà Nhì thường đặt theo tập tục là lấy tên người cha, hoặc tên con vật ứng với ngày sinh của người ấy làm tên đệm.

Hôn nhân gia đình

Trai gái Hà Nhì được tìm hiểu nhau trước khi kết hôn. Mỗi cặp vợ chồng, phải trải qua hai lần cưới. Ngay sau lần cưới trước, họ đã thành vợ chồng, cô dâu về nhà chồng và theo phong tục ở Lai Châu cô dâu phải đổi họ theo chồng. Cũng ở Lai Châu, có nơi lại ở rể. Lần cưới thứ hai được tổ chức khi họ làm ăn khấm khá và thường là khi đã có con.

Tục lệ ma chay

Phong tục ma chay của các vùng không hoàn toàn giống nhau, nhưng có một số điểm chung: khi trong nhà có người chết, phải dỡ bỏ tấm liếp (hay rút một vài nan) của buồng người đó, phá bàn thờ tổ tiên, làm giường đặt tử thi ở bếp, chọn ngày giờ tốt mới chôn. Người Hà Nhì không có nghĩa địa chung của bản, kiêng lấp đất lẫn cỏ tươi xuống huyệt, không rào dậu hay dựng nhà mồ, chỉ xếp đá quanh chân mộ...

Văn hóa

Người Hà Nhì có nhiều truyện cổ, có cả truyện thơ dài. Nam nữ thanh niên có điệu múa riêng, đều theo nhịp tấu, nhạc cụ gõ. Trai gái Hà Nhì tỏ tình thường dùng các loại khèn lá, đàn môi, sáo dọc. Các thiếu nữ thích thổi am-ba, mét-du, tuy-húy hay nát-xi vào ban đêm. Con trai gảy đàn La Khư. Ngày lễ hội còn có trống, thanh la, chập cheng góp vui. Người Hà Nhì có nhiều loại bài hát: các bà mẹ hát ru, thanh niên nam nữ hát đối... Có hát đám cưới, hát đám ma, hát mừng nhà mới, hát tiếp khách quí, hát trong ngày tết... Bài hát đám cưới của người Hà Nhì ở Mường Tè (Lai Châu) dài tới 400 câu.

Nhà cửa

Qua việc so sánh đối chiếu những tài liệu về nhà cửa của cá dân tộc này thì thấy rằng chỉ có nhà của người Hà Nhì là có những đặc trưng rõ rệt hơn. Tính thống nhất của các đặc trưng này còn được thể hiện trên những địa bàn khác nhau.

Nhà ở cổ truyền của người Hà Nhì là nhà đất. Bộ khung nhà khá đơn giản. Vì kèo cơ bản là kiểu vì kèo ba cột. Nhà có hiên rộng, người ta còn làm thêm một cột hiên nên trở thành vì bốn cột. Tường trình rất dày. Nhà không có cửa sổ, của ra vào cũng ít, phổ biến là chỉ có một cửa ra vào mở ở mặt trước nhà và lệch về một bên.

Mặt bằng sinh hoạt: nhà thường ba gian, ít nhà bốn gian. Có hiên rộng ở mặt trước nhà. Trong nhà chia theo chiều dọc: nữa nhà phía sau là các phòng nhỏ. Nửa nhà phía trước để trồng, một góc nhà có giường dành cho khách, ở đây còn có bếp phụ. Cũng có trường hợp hiên được che kín như là một hành lang hẹp thì cửa mở ở chính giữa. Những trường hợp như thế này thuộc về gian chính giữa hoặc thêm một gian bên cạnh có sàn cao khoảng 40cm để dành cho khách, ở đây cũng có bếp phụ.

Trang phục

Phong cách trang phục giống các dân tộc trong cùng nhóm ngôn ngữ, và có phần không điển hình ở phong cách trang trí. Váy đen, chỉ có mũ, khăn hai ống tay và nẹp áo phụ nữ có trang trí. Trang trí ở ống tay giống phong cách Lô lô và Hmông.

thanhruoi
19-09-2008, 11:57 AM
http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/24848d 32fdb83e57.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2669)Tên gọi khác: Brao. Dân số: 231 người. Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).

Lịch sử: Người Brâu chuyển cư vào Việt Nam cách đây khoảng 100 năm. Vùng Nam Lào và Ðông Bắc Campuchia là nơi sinh tụ của người Brâu. Hiện nay, đại bộ phận cộng đồng này vẫn quần cư trên lưu vực các dòng sông Xê Xan (Xê Ca Máng) và Nậm Khoong (Mê Kông). Người Brâu có truyền thuyết Un cha đắc lếp (lửa bốc nước dâng) nói về nạn hồng thuỷ.Hoạt động sản xuất: Nguồn sống chính là làm rẫy để trồng lúa nếp, lúa tẻ, ngô, sắn. Phương thức canh tác là phát, đốt rồi chọc lỗ tra hạt, thu hái bằng tay. Việc săn bắn, hái lượm còn chiᠴrí ?? trí quan trọng, đem lại thức ăn khá thường xuyên cho mọi gia đình. Trong làng người Brâu sinh sống có lò rèn để sửa chữa nông cụ. Ðàn ông có khá nhiều người biết đan lát. Ðể có đồ mặc, người ta thường đem lâm thổ sản đổi lấy váy áo hoặc vải của các dân tộc láng giềng.

Ăn: Người Brâu chủ yếu ăn cơm nếp đốt trong ống nứa non (cơm lam), thứ đến là cơm gạo tẻ nấu trong nồi đất nung. Ngô, sắn chỉ dùng để chăn nuôi gia súc, gia cầm. Thức ăn có muối ớt, rau quả, măng tươi, cá suối, chim thú săn bắn được. Thức uống có rượu cần. Trẻ, già, trai, gái đều thích hút thuốc lá sợi bằng điếu khan.

Mặc: Ðàn ông xưa đóng khố, đàn bà quấn váy tấm. Mùa hè, nam nữ thường ở trần hoặc mặc áo cánh ngắn chui đầu. Mùa lạnh thường khoác thêm một tấm mền. Nữ giới có tục căng tai để đeo những khoanh nứa vàng hoặc khuyên bằng ngà voi. Nữ trang có vòng cổ, vòng tay bằng đồng, bạc hay nhôm. Nam nữ đến tuổi 15-16 đều theo tục cưa bằng 4 răng cửa hàm trên để chính thức hội nhập vào cộng đồng những người trưởng thành


http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/24848d 33019a40bb.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2671)


Ở: Người Brâu sống tại làng Ðắc Mế xã Bờ Y thuộc huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum. Họ cư trú trên những ngôi nhà sàn có mái dốc cao. Nền sàn được cấu tạo thành hai nấc cao thấp khác nhau để phân định chức năng sinh hoạt. Nhà chính đi sang nhà phụ qua một cầu sàn. Các ngôi nhà trong làng được bố trí quay đầu hồi, mở cửa chính hướng về phía trung tâm - nơi có ngôi nhà làng - nhà chung của cộng đồng. Như vậy làng có khuôn viên hình tròn, các ngôi nhà ở được sắp xếp như một cái nan hoa của bánh xe bò.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là cái gùi đan bằng tre nứa để cõng trên lưng.

Quan hệ xã hội: Xã hội Brâu đã phân hoá giàu nghèo ở giai đoạn ban đầu. Gia đình nhỏ phụ hệ đã được thiết lập, nam nữ bình quyền. Những tàn tích của chế độ gia đình mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét.

Cưới xin: Lễ cưới được tổ chức ở nhà gái song do nhà trai chi phí. Sau lễ kết hôn, tục ở rể được kéo dài khoảng 4 -5 năm và tiếp đó là thời kỳ luân cư của đôi trai gái.

Ma chay: Khi có người quá cố, tang chủ nổi chiêng trống để báo tang. Thi hài được liệm trong quan tài bằng thân cây khoét rỗng để ở nhà tang mới dựng gần nhà ở. Quan tài chôn nửa chìm nửa nổi là một đặc trưng trong tục lệ ma chay của người Brâu. Nhà mồ dựng trên mộ để chứa những tài sản được chia cho người chết. Số tài sản này đều đã bị huỷ một phần dưới hình thức bẻ gẫy, chọc thủng, làm sứt mẻ...

Nhà mới: Khi ngôi nhà được khánh thành, người ta làm lễ lên nhà khá long trọng và được cả làng cùng tham dự bữa tiệc sau lễ cúng các thần linh.




http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/24848d 3308c65289.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2673)
Người Brâu có các loại gùi khác nhau. Ðẹp nhất là kiểu gùi có hoa văn, có nắp đậy, thường dùng để cất đồ đạc quý trong nhà hoặc để đựng và vận chuyển thóc gạo.
Hiện vật Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.


Lễ tết: Lễ ăn mừng cơm mới sau ngày thu hoạch là Tết. Ngày ăn tết tuỳ thuộc vào thời vụ và từng gia đình cụ thể, không quy định ngày nào thống nhất.

Lịch: Nông lịch tính theo tuần trăng và định ra tháng theo mùa vụ canh tác rẫy lúa của ông bà xưa.

Học: Ngôi nhà làng ở trung tâm đồng thời là trường học của thanh thiếu niên do các già làng đảm nhiệm. Trẻ được học nghề, học những truyền thống văn hoá của tộc người mình và rèn luyện tinh thần chiến đấu bảo vệ an ninh cho buôn làng, bảo vệ phong tục tập quán của ông bà xưa.

Văn nghệ: Dân ca có lời ca, truyện cổ về thần sáng tạo Pa Xây, huyền thoại Un cha đắp lếp, những bài ca đám cưới, hát ru. Nhạc cụ có đàn klông pút được gọi là táp đinh bổ, nhưng quan trọng hơn cả vẫn là những bộ chiêng đồng nổi tiếng với 3 loại có thang âm khác nhau là coong, mam và tha.

Chơi: người Brâu có các trò chơi vui giải trí như đánh cù, thả diều sáo, hay diều bươm bướm, bơi lội trên sông, cướp dây, bịt mắt đi tìm, đi cà kheo...


http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/24848d 33103c672f.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2674)

Trong làng Ðắc Mế hiện nay, nhà ở đều là nhà trệt, thưng ván, lợp ngói... Kiểu nhà cổ truyền Brâu chỉ còn hiện hình ở ngôi nhà bếp; mà cũng rất ít thấy. Ðó là loại nhà sàn, mái lợp cỏ tranh, cửa ra vào ở mặt trước...






st:vietnamculture

tuyemthoi
19-09-2008, 12:06 PM
5 - Dân tộc Si La

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, người dân tộc Si La có số dân dưới 1.000 người, chỉ sống ở xã Can Hồ (Mường Tè, Lai Châu) và bản Nậm Sin, xã Chung Chải (Mường Nhé, Điện Biên). Phụ nữ người dân tộc Si La ở bản Nậm Sin tuy có số lượng rất ít song họ vẫn tạo cho mình những nét độc đáo trong cách ăn mặc. Bộ trang phục của họ thường gồm: khăn đội đầu, áo, yếm, váy, xà cạp, vòng cổ, vòng tay...

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d33 2c48ec2f.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2675)

Thiếu nữ dân tộc Si La

Áo của phụ nữ Si La thường được may bằng vải đen, cổ áo dời, xung quanh cổ áo được viền hai dải vải xanh và đỏ. Đường khâu ghép giữa cổ và thân áo bằng chỉ màu và được khâu nổi để trang trí. Ở thân áo phía trước, dọc theo tà áo có táp thêm một mảnh vải hình tam giác tạo cho chiếc áo có hình dáng như xẻ nách. Mỗi chiếc áo thường đính 3 cúc bạc để cài 2 thân trước với nhau. Trên hình tam giác có đính từ 20 – 30 đồng xu bằng bạc hoặc kim loại để trang trí. Phần tay và gấu áo thường được ghép các đường vải màu xanh, đỏ hay trắng. Việc ghép vải nơi cổ, gấu, tay áo và trang trí đồng xu bạc trước ngực tạo cho áo phụ nữ Si La nét đặc trưng khá nổi bật.

Ở người Si La, phụ nữ đã có chồng, con thường dùng yếm. Yếm được trang trí các đồng xu bạc bên viền nẹp. Khi sử dụng, người ta vòng 2 dây ra sau lưng và buộc lại sao cho phần đuôi to bản của dây buông xuống để trang điểm phía sau. Váy của phụ nữ Si La thường là vải đen, cạp váy có thêu hoa văn hình răng cưa bằng chỉ màu vàng, xanh.

Độc đáo trong trang phục nữ dân tộc Si La còn phải kể đến khăn đội đầu. Từ xưa, người Si La đã có những quy định khá khắt khe trong việc đội khăn theo từng lứa tuổi. Ví dụ, thiếu nữ thì buộc tóc sau gáy rồi quấn khăn trắng khâu bằng chỉ đỏ, xanh quanh bím tóc; khăn đội đầu của phụ nữ đã có con là màu đen, được làm bằng vải xanh, đen; nếu sinh con gái hay trai đều có cách đội khăn khác nhau.

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d33 30ee8f5b.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2676)

Trang phục của người Si La

Hiện nay, trang phục truyền thống thường chỉ được phụ nữ Si La mặc trong các ngày lễ, tết còn ngày thường họ mặc áo sơ mi và váy theo kiểu người Thái.

Người Si La ở nhà trệt, giữa nhà có bếp lửa. Phụ nữ ăn mặc khá độc đáo, đặc biệt là mảng áo ngực bằng vải khác màu với áo gắn dày đặc đồng xu bạc, xu nhôm. Người Si La có phong tục làm lễ cưới 2 lần, lần sau cách lần trước một năm. Trong trường hợp có người chết, đồng bào tổ chức vui chơi, ca hát, không có tiếng khóc. Người Si La cũng thực hiện nhiều lễ thức tôn giáo như cúng tổ tiên, cúng bản.

Khá xè la - nghi lễ gieo nương của người Si La

Người Si La ở bản Nậm Sin, huyện Mường Nhé, Điện Biên hiện còn lưu giữ phong tục khá đặc biệt gọi là lễ “Khá xè la”. Đó là một nghi lễ gieo nương tượng trưng. Nghi lễ này được tổ chức vào tháng 2 âm lịch hàng năm, trước ngày gieo nương thực khoảng 3 ngày và do trưởng họ chủ trì.

Trước ngày làm lễ “Khá xè la”, người Si La phát sẵn một đám nương và dựng một lều nương trên đó. Sáng sớm ngày làm lễ, người trưởng họ mang theo một quả bầu đựng nước, một cục than, gậy chọc lỗ đầu bịt sắt nhọn và một số loại giống cây trồng trên nương đi đến đám nươnátg đã ph từ hôm trước. Tại đám nương này, người ta diễn lại cách thức gieo lúa trên nương. Trước tiên người trưởng họ gieo tượng trưng vài ba hàng lúa rồi làm lễ cúng chủ nương với lễ vật là măng đắng, trứng gà, đầu sóc, cá, cơm. Sau đó, mọi người trồng tiếp ngô, khoai, bí... rồi nghỉ ăn cơm trưa trong lán, sau đó lại tiếp tục công việc gieo trồng. Người Si La tin rằng nếu nương lúa này tốt thì năm đó sẽ được mùa.

Trước ngày gieo hạt, người Si La còn có một ngày cấm gọi là “mía lô lô”. Trong ngày này, người ta kiêng không làm các món nướng, rán, xào và cấm người lạ vào bản. Người Si La quan niệm ai phạm vào điều kiêng kị đó thì gia đình đó sẽ có người ốm, vật nuôi trong nhà chết, thóc giống để gieo cũng bị chim, chuột ăn hết. Người trong bản Nậm Sin không giải thích được nguồn gốc của tục lệ này nhưng người ta vẫn duy trì phong tục đó đến ngày nay.

tuyemthoi
19-09-2008, 01:44 PM
6 - Dân tộc Khơ Mú

Dân tộc Khơ Mú hiện có khoảng 43.000 người sinh sống tập trung ở các tỉnh Nghệ An, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Thanh Hoá, Yên Bái. Ngoài tên gọi Khơ Mú, dân tộc này còn có tên gọi khác như Xá Cẩu, Mứn Xen, Pu Thênh, Tềnh, Tày Hạy. Tiếng nói của người Khơ Mú thuộc nhóm Môn-Khmer.

Người Khơ Mú sống chủ yếu nhờ vào lương thực thu hoạch từ nương rẫy. Trong đó cây trồng chính là lúa, ngô, khoai, sắn. Trong canh tác đồng bào Khơ Mú thường dùng rìu, dao, gậy chọc hốc trồng cây. Hái lượm săn bắt giữ vị trí vô cùng quan trọng, nhất là lúc giáp hạt. Chăn nuôi của đồng bào chủ yếu là phục vụ cho các dịp lễ tết, tiếp khách. Nghề đan lát của đồng bào rất phát triển. Bà con đan các đồ dùng để vận chuyển và chứa lương thực, ngày nay một số sản phẩm đan lát cũng đã đem lại nguồn thu nhập đáng kể… Song nghề dệt của người Khơ Mú không phát triển, vải để may trang phục của họ chủ yếu là mua của người Thái.

Đến nay ở nhiều vùng người Khơ Mú vẫn còn du canh du cư. Làng bản của họ thường cách xa nhau, nhỏ bé, ít dân. Nhà cửa phần lớn là rất sơ sài, đồ dùng trong gia đình cũng rất ít ỏi. Nếu nhìn vào trong phục của người Khơ Mú hầu như ta không nhận thấy gì nét riêng biệt của dân tộc này, bởi hầu như đã bị pha trộn, tuy chỉ ở đồ trang sức có đôi điểm riêng biệt, nhưng số này không nhiều, mà chỉ còn thấy ở những người cao tuổi.

Các họ của người Khơ Mú thường mang tên một loài thú, một loài chim hay một thứ cây nào đó. Mỗi dòng họ đều coi thú, chim, cây ấy là tổ tiên ban đầu của mình và họ kiêng giết thịt và ăn thịt các loài động vật, thực vật này. Mỗi dòng họ đều có huyền thoại kể về lai lịch của tổ tiên chung, người cùng dòng họ đều coi nhau là anh em ruột thịt.

Ở gia đình người Khơ Mú vợ chồng bình đẳng, chung thuỷ. Người Khơ Mú có tục cưới xong ở rể một năm, sau đó mới đưa vợ về nhà mình. Khi ở nhà vợ, người chồng đổi họ theo vợ, còn nếu có con luôn trong năm đầu mới cưới thì con cũng theo họ mẹ, trái lại khi về nhà chồng, người vợ lại phải đổi họ theo chồng và các con lại mang họ bố. Người cùng dòng họ không được lấy nhau, nhưng con trai của cô lại được lấy con gái của cậu. Trong việc dựng vợ gả chồng và trong cuộc sống gia đình, vai trò của người cậu (em mẹ) đóng vai trò hết sức quan trọng đối với các cháu.

Trong tâm linh người Khơ Mú rất tin vào các loại "ma", đặc biệt là "ma trời”, “ông sét”, “ma đất”, “ma rừng”, “ma nương”, “ma nhà", "ma tổ tiên"… Trong một năm, đồng bào có những nghi lễ tôn giáo chính như: cúng ma nương, ma bản, thờ cúng tổ tiên và các nghi lễ liên quan đến lao động sản xuất.

Dân tộc Khơ Mú có truyền thống văn hoá lâu đời, phong phú và Nhị là nhạc cụ mà người Khơ Mú ưa thích hơn cả. Tuy cuộc sống vật chất của người Khơ Mú còn nghèo, nhưng cuộc sống tinh thần, các lễ hội dân gian khá dồi dào và luôn được đồng bào tham gia nhiều nhất.

Trang phục người Khơ Mú

Tuy ngày nay, nhu cầu ăn mặc của họ phần lớn dựa vào trao đổi vải mặc với người Thái hay mua ở cửa hàng mậu dịch, nhưng xưa kia cũng như một vài nơi hiện nay vẫn duy trì nghề trồng bông dệt vải, nhuộm chàm. Việc trồng bông và quá trình thu hoạch, chế biến thành sợi cũng tương tự như ở người Thái. Riêng việc dệt vải thì ở người Khơ Mú có hai loại khung dệt. Loại khung dệt thô sơ, dệt vải khổ nhỏ để may túi, khi dệt mắc một đầu sợi vào gốc cây, cột nhà, đầu kia buộc vào lưng, gọi là Tòng dra. Còn loại khung lớn dệt khổ vải trên dưới 40cm gọi là Rôông, dùng để may quần áo. Trong việc dệt vải của người Khơ Mú có một vài tập quán như kiêng mắc sợi một lần trong hai năm, do vậy đã mắc sợi thì bao giờ cũng phải kết thúc việc dệt trong năm đó, nếu không sẽ gặp rủi ro. Hay khi đang tháo vải từ khung ra mà có khách vào nhà thì bao giờ gia chủ cũng biếu khách 1 - 2 sải vải để làm quà, nếu không sẽ bị coi là keo kiệt, làm ăn không may mắn.

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d34 a14150a0.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2687)

Trang phục của phụ nữ dân tộc Khơ Mú.

Người Khơ Mú cũng có kinh nghiệm trong việc nhuộm chàm và các loại chỉ màu từ các nguyên liệu thiên nhiên. Người Khơ Mú trồng và chế biến cao chàm dùng để nhuộm suốt trong năm. Nhuộm đỏ thì dùng cánh kiến đỏ là thứ họ vẫn nuôi thả trong rừng, nhuộm màu vàng từ quả mắc nho, màu nâu từ quả mắc bâu...

Bộ trang phục của đàn ông Khơ Mú gồm quần, áo ngắn và áo dài, khăn, túi vải... Quần may kiểu chân què, cạp lá toạ, bằng vải bông nhuộm chàm. Họ mặc áo cánh ngắn tương tự như áo của người Thái. Tuy nhiên, lúc trang trọng họ còn mặc thêm loại áo dài. Áo may hơi thắt phía eo, hai vạt xoè rộng, gấu lượn vòng cung. Xưa đàn ông để tóc dài, búi sau gáy, đội ra ngoài khăn vải chàm. Túi vải cũng là thứ trang phục tuỳ thân của đàn ông, khi ra ngoài họ thường mang theo. Túi may từ vải tự dệt, trên mặt và quai túi có trang trí hoa văn với nhiều màu sắc. Thầy cúng Khơ Mú khi hành lễ mặc áo dài may chắp từ nhiều mảnh vải màu sắc sặc sỡ. Khi có tang, nam giới mặc quần áo thường ngày, chỉ đội khăn trắng lên đầu và đeo bao dao bên hông. Người đội khăn trắng kiêng lên nhà người khác, vì như vậy sẽ mang rủi ro cho người đó.

Bộ nữ phục Khơ Mú gồm váy, áo cánh ngắn, thắt lưng, khăn đội đầu... Xưa kia, đàn bà Khơ Mú mặc loại váy may bằng vải do họ tự dệt, cạp và gấu có đáp thêm vải khác màu. Váy may hình ống, khi mặc gập phần thừa ra phía trước. Nay rất ít người còn mặc loại váy này, mà phần lớn đã mặc loại váy của người Thái.

Áo ngắn may bằng vải sợi bông nhuộm chàm theo kiểu xẻ ngực, cổ thìa, cúc vải, tay áo bó sát cánh tay, vạt áo ngắn, chỉ vừa chấm eo. Hai nẹp áp ngực được đáp thêm dải vải mầu, trên có đính hàng đồng tiền, hạt cườm. Hàng khuy bạc to bản từ cổ xuống gấu áo, cài khít hai nẹp áo lại với nhau, chính sự trang trí nẹp áo và hàng khuy bạc này đã tạo nên nét phân biệt giữa áo cánh Khơ Mú và xửa cỏm của phụ nữ Thái. Các cháu bé gái mặc áo liền váy, cổ đeo vòng vía.

Phụ nữ Khơ Mú đội khăn bằng vải bông nhuộm chàm, hai đầu khăn đáp thêm hai miếng vải màu và các tua chỉ màu.Trước khi đội khăn, tóc được búi gọn lại, thường có độn tóc cho búi tóc to, đẹp. Cách đội khăn của người Khơ Mú khác với người Thái đội piêu. Họ gấp thành bốn theo chiều dọc, đặt một đầu khăn ở sau gáy, tua rủ xuống lưng, sau đó quấn khăn hai vòng quanh đầu, đầu khăn kia được giắt vào phía sau trong khăn.

Phụ nữ thắt lưng bằng vải dệt có hoa văn ra ngoài áo và cạp váy, đầu thắt lưng rủ phía sau. Xưa kia, phụ nữ nhà giàu thắt lưng bằng vỏ ốc kết lại. Đó là một loại tiền dùng trong nghi lễ và trao đổi. Phụ nữ nhuộm răng đen, dùng các loại vòng bạc, xà tích, trâm cài đầu, nhẫn.

Trong tang lễ, phụ nữ có nhiều cách để tang khác nhau. Trường hợp bố, mẹ chết, con gái phải đội khăn trắng, mặc váy xổ gấu. Nếu chồng chết, người vợ đội khăn trắng, tóc để xoã, mặc váy xổ gấu. Sau khi chôn cất xong phải búi tóc sau gáy.

Tập quán sinh đẻ của người Khơ Mú

Đây là một dân tộc khá thống nhất không bị chia thành các nhóm địa phương khác nhau, mặc dù họ có thể sinh sống ở nhiều vùng xa nhau. Mỗi bản cư trú của người Khơ Mú đều dựa trên các mối quan hệ huyết tộc, họ hàng. Đây cũng là nhân tố góp phần quan trọng trong việc gìn giữ, bảo lưu phong tục tập quán của dân tộc Khơ Mú. Một trong những tập quán truyền thống được đề cập đến trong phần này đó chính là tập quán sinh đẻ của người Khơ Mú ở bản Vang, xã Mường Phăng, huyện Điện Biên.

Bản Vang cách trung tâm xã Mường Phăng 17 km, là nơi cư trú tập trung nhất của người Khơ Mú trong xã với 83 hộ và 545 nhân khẩu.Cũng giống như các dân tộc anh em khác, người Khơ Mú quan niệm, sinh đẻ vừa là thiên chức vừa là bổn phận tự nhiên của người phụ nữ; gia đình hạnh phúc là gia đình có nhiều con. Do vậy, người phụ nữ không con cái sẽ bị gia đình và dòng họ hắt hủi, coi thường, bị coi là “kẻ đơn độc”, “cây độc không con”. Do vậy, người phụ nữ Khơ Mú lập gia đình khi mang thaitrở thành thành viên “đặc biệt” được cả gia đình quan tâm, chăm sóc. Mọi người trong gia đình sẽ hết sức giúp đỡ để người phụ nữ có thai sống khoẻ mạnh và có đời sống tinh thần thoải mái. Tập quán giúp bảo vệ bà mẹ và đứa trẻ ngay từban đầu. Theo quan niệm của người Khơ Mú, khi có thai người phụ nữ phải kiêng khem rất nhiều thứ để tránh làm ảnh hưởng đến việc sinh đẻ.

Trong ăn uống họ kiêng ăn các loại động vật có lông màu trắng như lợn khoang, trâu trắng, gà trắng…Vì đồng bào quan niệm những con vật lông màu trắng có thịt rất độc, có thể sẽ làm hại đến bà mẹ và thai nhi. Họ sẽ không ăn những con vật đã bị chết, kiêng ăn thịt rùa, ba ba vì lo đứa trẻ sinh ra bị rụt cổ; kiêng ăn thịt rắn vì lo con bị thè lè lưỡi và kiêng ăn những loại cá không có vảy lo con bị trọc đầu. Ngoài ra, khi mang thai người phụ nữ phải kiêng làm một số việc như: không nhảy từ hố nọ sang hố kia, không để váy của họ qua đầu người đàn ông. Họ cho rằng làm như vậy người phụ nữ đó sẽ khó sinh. Không chỉ người vợ phải kiêng mà người chồng cũng phải kiêng theo, họ sẽ kiêng việc đánh đập, giết mổ súc vật, thậm chí thấy ai đang làmnhững việc đó cũng tìm cách tránh nhìn.Vì họ tin rằng sẽ làm cho đứa trẻ trong bụng người vợ sợ hãi. Người chồng sẽ không đóng cọc rào, kéo rong ngược hay xẻ gỗ vì sợ người vợ khó đẻ.

Khi mang thai, người phụ nữ đi trên đường bất chợt gặp đám ma thì họ sẽ cố gắng tránh từ xa hoặc phải nhặt một số vật liên quan đến đám ma như vải liệm, dây buộc đòn khiêng…để đun nước tắm cho đứa trẻ khinó được sinh ra.Trong thời gian mang thai được 4, 5 tháng gia đình sẽ tiến hành làm lễ “bói thai” cho đứa trẻ trong bụng bằng quả trứng gà xem có con ma nào làm hại thai nhi không. Nếu bói được ra có ma làm hại thì gia đình sẽ làm lễ cúng để trừ tà ma cho đứa trẻ. Đồ lễ cúng sẽ gồm có ít gạo, thóc, ớt, thuốc lá sợi, ít thịt tươi, 7 nắm cơm nếp bôi nhọ nồi hoặc quyết trầu, 3 miếng vải với các màu xanh, đỏ và hình nhân để tống tiễn tà ma cho đứa trẻ.

Người sản phụ khi sắp sinh sẽ được gia đình chuẩn bị cho 1 gian riêng. Đó là gian ngày thường gia đình để đồ đạc dụng cụ lao động sản xuất. Đỡ đẻ cho sản phụ thường là một người phụ nữ có tuổiở bản và có kinh nghiệm trong chuyện sinh đẻ, người chồng sẽ túc trực ngồi bên cạnh động viên từ khi người vợ đau bụng cho tới khi đứa trẻ sinh ra được mẹ tròn con vuông. Người Khơ Mú sinh con bằng cách ngồi xổm 2 tay cầm sợi dây thừng chăng từ xà nhà xuống và cố sức rặn. Đứa trẻ sinh ra được cắt rốn bằng cật nứa sắc và cả 2 mẹ con sẽ được tắm luôn bằng nước lá thơm. Trong trường hợp sản phụ khó đẻ; gia đình sẽ đi mời thầy cúng. Thầy cúng đem con vịt được tắm qua bằng rượu vừa xoa khắp bụng và lưng cho sản phụ vừa làm lễ cúng khấn cầuđể thần linh và tổ tiên phù hộ. Nhau thai của đứa trẻ sẽ được tự tay ông bốbỏ vào ống tre rồi lẳng lặng đem vào rừng treo lên một cây cao nhất. Người phụ nữ khi sinh con xong sẽ được ăn một số rau rừng và loại muối tiêu đã được nướng cháy thành than, những gia đình khá giả hơn thì người sản phụ sẽ được bồi dưỡng thêm con gà, giò lợn và một số loại cá nướng. Sản phụ vẫn phải kiêng ăn những động vật có lông màu trắng, thịt chó, khỉ, hoẵng...

Thời gian ở cữ của sản phụ là một tháng, họ sẽ được uống nước đun sôi nấu bằng các loại lá thơm trên rừng. Trong 7 ngày đầu họ sẽ kiêng không cho người lạ vào nhà.

Người Khơ Mú làm lễ đặt tên cho đứa trẻ được sinh ra sau 3 ngày nếu là con trai và sau 2 ngày nếu là con gái. Lễ đặt tên gồm có 1 con gà, 1 vò rượu cần, 2 chai rượu trắng, 1 bộ quần áo và dùng 6 sợi chỉ đỏ đểbuộc dây vía cho đứa trẻ mới sinh ra và bố mẹ chúng trước sự chứng kiến của 2 gia đình nội ngoại và bà con trong bản. Sau đó họ ăn uống vui vẻ và cầu phúc cho đứa trẻ lớn lên được mạnh khoẻ. Sau lễ này, sản phụ cùng đứa trẻ sẽ được trở lại chỗ ngủ ngày thường. Một tháng sau ngày sinh người mẹ có thể địu con lên nương, ra suối làm việc bình thường như bao người phụ nữ khác của dân tộc Khơ Mú.

tuyemthoi
19-09-2008, 02:02 PM
7 - Dân tộc Giáy

Tên dân tộc: Giáy (Nhắng, Dẳng, Pâu Thìn, Pu Nà, Cùi Chu, Xạ)

Dân số: 49.098 người (năm 1999)

Ðịa bàn cư trú: Tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu và Cao Bằng.

Phong tục tập quán:

Thờ tổ tiên, thờ cả bà mụ liên quan đến sinh đẻ và trẻ sơ sinh, thờ thần thổ... Làng người Giáy đông đúc, có khi tới cả trăm nhà. Họ ở nhà sàn hoặc ở nhà trệt. Gian giữa bao giờ cũng để tiếp khách và đặt bàn thờ tổ tiên. Người chồng, người cha có vị thế nổi bật trong gia đình. Con cái lấy họ cha. Nhà trai chủ động việc cưới xin. Phụ nữ Giáy khi mang thai phải kiêng cữ và cúng cầu mong sinh nở yên lành.

Ngôn ngữ: Thuộc hệ ngôn ngữ Tày - Thái.

Văn hoá: Có vốn truyện cổ, thơ ca, tục ngữ, câu đố, đồng dao...

Trang phục: Nam mặc quần, áo, vấn khăn. Nữ có áo 5 thân xẻ nách bên phải cài cúc, mặc quần, đầu đội khăn hoặc vấn tóc để trần.

Kinh tế: Làm ruộng nước là chính, rẫy chỉ là nguồn thu nhập thêm và thường cũng là chỗ chăn nuôi. Nuôi nhiều ngựa để cưỡi, thồ, dùng trâu kéo cày, kéo gỗ.

Hội roóng poọc của người Giáy

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d35 06473b3c.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2690)

Hàng năm vào ngày Thìn tháng Giêng âm lịch người Giáy ở Tả Van (huyên SaPa) lại mở hội Roóng Poọc để cầu mùa màng bội thu, người yên vật thịnh, mưa thuận, gió hoà.

Tuy vốn là lễ hội dân tộc truyền thống của người Giáy ở Tả Van, nhưng nhiều năm nay đã lan rộng, trở thành lễ hội chung của cả vùng thung lũng Mường Hoa. Từ sáng sớm, làn sương còn giăng mù mịt từng đoàn người tíu tít nói cười trong mây, hồ hởi về dự hội.

Người Mông từ Hầu Thào, Lao Chải dồn xuống, người Dao từ Bản Hồ, Bản Phùng ngược lên, du khách từ thị trấn SaPa cũng tới dự làm cho lễ hội đông vui tới vài nghìn người.

Địa điểm mở hội là một khu ruộng tương đối bằng phẳng phía đầu bản. Trung tâm hội dựng cây còn cao vút bằng cây mai có một vòng tròn trên ngọn. Vòng tròn đó một mặt dán giấy đỏ tượng trưng cho mặt trời, một mặt dán giấy vàng tượng trưng cho mặt trăng. Mâm cúng của thầy mo gồm các lễ vật tượng trưng cho sự no ấm như : vải, trứng , măng , bạc trắng và 6 qủa còn của các cô gái chưa chồng. Mở đâu lễ hội là cúng thần linh cầu cho người yên, vật thịnh . Khi lễ cúng kết thúc là dàn nhạc trống, chiêng điệu kèn pí lè tấu lên thông báo các chò chơi mang tính nghi lễ tượng trưng bắt đầu.

Mở đầu là chò chơi ném còn. Những người cao tuổi (nam một bên, nữ một bên) lấy 6 quả còn cùng ném tượng trưng 3 lần khai mạc, rồi sau đó mọi người vào cuộc chơi. Những quả còn tua xanh đỏ vun vút lao len phông còn.tiếng xuýt xoa hò reo cổ vũ rền vang.Phông còn bị ném thủng là báo hiệu cho một năm mùa màng tươi tốt.

Cùng với ném còn là chơi kéo co cũng bắt đầu bằng hình thức kéo nghi lễ. Tốp nam đứng phía đông cầm phần gốc dây song (dây kéo co).Tốp nữ đứng phía tây cầm phần ngọn. Hồi trống kèn nổi nên thùc giục.Bên nam(đằng đông tượng trưng cho dương, mặt trời) luôn kéo thắng. Bên nữ (tượng trưng cho âm) giả vờ thua. Và như vậy, năm đó cả làng sẽ được mùa. Phần nghi lễ kết thúc, đông đảo nam nữ thanh niên cùng ùa vào chia phe thi kéo, kể cả du khách cũng có thể tham gia.

Các trò chơi đang tiếp diễn, thì những đôi nam nữ lặng lẽ rút khỏi cuộc chơi tìm góc vắng tâm tình qua đàn môi, tiếng khèn, lời hát. Ngày hội rồi cũng đến hồi kết thúc, các già làng làm lễ khấn và hạ cột còn. Hai thanh niên khoẻ mạnh cùng 2 con trâu mộng được chọn cầy 5 đường “ xuống đồng” tượng trưng cho vụ mùa mới bắt đầu.

tuyemthoi
19-09-2008, 02:19 PM
8 - Dân tộc Thái

Tên dân tộc: Thái (Tày, Táy Ðăm, Táy Khào, Tày Mười, Tày Thanh, Hàng Tổng, Pu Thay, Thờ Ðà Bắc).

Dân số: 1.328.725 người (năm 1999).

Ðịa bàn cư trú: Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình, Nghệ An, Lào Cai.

Phong tục tập quán:

Thờ cúng tổ tiên, cúng trời đất, cúng bản mường. Nhiều nghi lễ cầu mùa. Trong hôn nhân có tục ở rể khi có con gái gả chồng. Ðám ma là lễ tiễn người chết về "mường trời". Người Thái ở nhà sàn. Người Thái Ðen làm nhà có hình mai rùa, trang trí theo phong tục xưa.

Ngôn ngữ:

Thuộc hệ ngôn ngữ Tày - Thái.

Văn hoá:

Có vốn văn học cổ truyền quý báu: thần thoại cổ tích, truyền thuyết, truyện thơ, ca dao... thích ca hát, ngâm thơ, hát theo lời thơ, đệm đàn và múa (gọi là khắp). Có nhiều điệu múa: xoè Thái, múa sạp. Hạn khuống, ném còn là đặc trưng văn hoá của người Thái.
Một góc nhà của người Thái

Trang phục:

Nữ mặc áo, váy, khăn theo lối cổ truyền dân tộc.

Kinh tế:

Làm ruộng, cấy lúa, làm nương, trồng hoa mùa và nhiều cây khác. Chăn nuôi gia súc, gia cầm, đan lát, dệt vải. Dệt thổ cẩm là sản phẩm độc đáo.

---------------------------------------------------------

Chiếc khăn Piêu độc đáo của dân tộc Thái

Mỗi dân tộc trên thế giới đều mang sắc thái văn hóa độc đáo của mình qua trang phục. Cùng với ngôn ngữ, trang phục là dấu hiệu thông tin quan trọng thứ hai để chúng ta dễ nhận biết tộc người này và tộc người khác mỗi khi dịp tiếp xúc.

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d35 3023c218.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2692)

Thiếu nữ Thái duyên dáng với chiếc khăn Piêu

Người Thái cư trú ở nhiều nơi trên đất nước ta nhưng tập trung đông nhất là ở các tỉnh Tây Bắc; Sơn La, Lai Châu.... Ngoài sức hấp dẫn của trang phục, khăn Piêu của phụ nữ Thái mang một nét riêng thật hấp dẫn, độc đáo: "Em xe sợi thành vóc hoa dâu. Em dệt cửi thành gấm vân chéo. Em dệt tơ thành đóa hoa vàng. Người các bản các phường muốn khóc. Đều ước ao được em thêu khăn" (Dân ca Thái).

Nếu chỉ trừ một bộ phận phụ nữ tộc Thái trắng đội nón tát thì đa số phụ nữ Thái Mường Thanh (Lai Châu), Mường La (Sơn La), Mường Lò (Lào Cai), đều đội khăn vải. Khăn vải dùng để đội trên đầu người Thái gọi là Piêu. Piêu có nhiều loại khác nhau, có loại được thêu hoa văn bằng chỉ màu sặc sỡ, có loại chỉ là một tấm vải bông nhuộm chàm, tùy từng vùng, từng địa phương mà Piêu có những sắc thái riêng của nó. Piêu có tác dụng che đầu khi nắng gió, làm ấm đầu khi mùa đông giá lạnh... Piêu còn là vật trang sức quan trọng của các cô gái Thái trong sinh hoạt hằng ngày, nhất là trong lúc đi chơi hay dự lễ hội...

Đồng bào Thái làm Piêu từ loại vải bông tự dệt. Trước khi thêu, miếng vải được chọn làm khăn đội đều phải nhuộm chàm. Chàm là màu nền để trên đó người phụ nữ Thái thêu lên các họa tiết, hoa văn bằng các loại chỉ màu (xanh, đỏ, tím, vàng, da cam....) ở hai đầu khăn. Để có một chiếc Piêu hoàn chỉnh, người phụ nữ Thái phải mất thời gian từ hai đến bốn tuần.

Piêu Thái không phải trang trí ở toàn bộ diện tích của nó mà được tập trung đồ án trang trí ở hai đầu. Trước khi thêu các đồ án trang trí ở hai đầu khăn, phụ nữ Thái ghép mảnh vải đỏ làm viền. Các viền đỏ bọc cho sợi ở các đầu khăn khỏi bị xổ ra, vừa như là giới hạn diện tích trang trí ở đầu khăn. Đường viền vải đỏ bọc ở ba mép đầu khăn rộng trên dưới 1 cm. Phụ nữ Thái dùng lối khâu luồn rất khéo léo để hạn chế tới mức tối đa đường chỉ lộ ra ngoài để cho đường viền màu đỏ và nền chàm của khăn liền làm một. Trước khi thêu, chị em làm những chiếc cút để đính vào Piêu, có thể làm nhiều cút Piêu một lúc rồi dùng dần. Cút Piêu được làm từ một mảnh vải đỏ rộng khoảng 1 cm, bên trong bọc lõi chỉ rồi cuộn tròn lại. Cuộn vải tròn được khâu vắt thành một hình tròn rồi quấn dây vải lại theo hình trôn ốc, sau đó được quấn thêm các loại chỉ màu thành các múi trong hình tròn. Đối với các cút Piêu đòi hỏi phải tỷ mỷ, cầu kỳ, chỉ có những người thành thạo mới biết làm. Các cút sau khi làm xong được ghép lại rất khéo léo vào đầu Piêu. Các loại chỉ màu được sử dụng như vậy vừa mang chức năng kỹ thuật, vừa mang giá trị thẩm mỹ. Nhìn vào chiếc cút được dính vào đầu Piêu, ta rất khó đoán nhận ra được mạch chỉ khâu ghép các đường trang trí với nhau.

Các loại đường khâu đều do phụ nữ Thái tự sáng tạo, có nhiều kiểu: móc xích, chân rết, xương cá...

Các cút Piêu trước hết được đặt trên ba đoạn thẳng của mỗi đầu khăn. Còn chính bốn góc của khăn, chị em dùng dây làm cút còn dư tết thành hình bông hoa cách điệu. Cút Piêu thường được sắp xếp thành từng chùm lẻ (3, 5, 7 cái) trên các vị trí cách đều nhau ở hai đầu khăn, bởi vậy cút ở trên Piêu bao giờ cũng là cút chùm. Cũng như nhiều vật dụng khác (cúc áo, chắn song cửa sổ, bậc thang nhà sàn...), cút Piêu được thiết kế theo quan niệm số lẻ. Bình thường phụ nữ Thái thường đội Piêu có cút chùm ba, nhưng khi tặng Piêu cho người bậc trên, người mình quý trọng, kính yêu thì tặng loại Piêu có cút chùm năm trở lên....

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d35 33e4490e.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2693)

Piêu còn là vật trang sức quan trọng của các cô gái Thái trong sinh hoạt hằng ngày, nhất là trong lúc đi chơi hay dự lễ hội...

Sau khi bọc viền và ghép cút Piêu xong, phụ nữ Thái bắt đầu công việc thêu Piêu. Khi thêu những đồ án hoa văn đa dạng lên hai đầu khăn, họ nhìn theo mẫu, song không rập khuôn một cách máy móc. Trong quá trình thêu, họ có thể sáng tạo theo ý muốn chủ quan của mình. Nét đặc biệt là phụ nữ Thái không thêu Piêu ở mặt phải (như lối thêu thông thường) mà lại thêu từ mặt trái, các hoa văn với đồ án và màu sắc phức tạp lại hiện lên ở mặt phải, đó là lối thêu truyền thống với trí tưởng tượng của kỹ thuật và mỹ thuật dân gian tài tình. Piêu được tạo theo lối luồn chỉ hay đan chỉ màu vào vải, nhưng cái khó là phải tính toán theo một nguyên tắc nhất định để luồn chỉ vào mặt trái và hoa văn lại hiện lên chính xác ở mặt phải. Hoa văn Piêu không đơn giản, điểm xuyết mà là một hệ thống đồ án có bố cục nội dung phức tạp, đòi hỏi người phụ nữ Thái phải nắm chắc nguyên tắc kỹ thuật, phải thuộc đồ án hoa văn với hai mặt phải, trái của nó.

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d35 37e27898.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2694)

Cút Piêu thường được sắp xếp thành từng chùm lẻ (3, 5, 7 cái) trên các vị trí cách đều nhau ở hai đầu khăn, bởi vậy cút ở trên Piêu bao giờ cũng là cút chùm.

Con gái Thái từ 6,7 tuổi phải làm quen với bông, sợi, dệt vải; mười hai, mười ba tuổi bắt đầu làm quen với công việc thêu thùa. Thành viên nữ của cộng đồng Thái phải biết nhìn vào mẫu Piêu, biết nhận ra bố cục của đồ án hoa văn... Học thêu Piêu với các cô gái Thái là một quá trình nhận thức và rèn luyện đôi bàn tay khéo léo của mình để chuẩn bị bước vào đời. Lúc đầu các cô gái chỉ thêu được những đường thẳng hoặc những mô-típ hoa văn đơn giản, dần dần tiến tới biết xử lý đồ án, bố cục, biết xử lý màu sắc ở nhiều mô-típ hoa văn trong những bố cục phức tạp. Việc học dệt vải và học thêu khăn Piêu là bài học phổ thông, tất yếu của mọi thành viên nữ trong nếp sống của cộng đồng dân tộc Thái, bởi vậy Piêu còn là một tiêu chuẩn xã hội để đánh giá một phụ nữ. Qua chiếc Piêu có thể biết được chủ nhân của nó là người tài hoa, siêng năng, chịu khó hay là người lời nhác, vụng dại. Khăn Piêu của phụ nữ Thái không chỉ mang giá trị thẩm mỹ mà còn mang tính xã hội, cùng với váy, áo, nón đội, thắt lưng, Piêu góp phần tạo nên một nét đẹp, một sắc thái riêng, hấp dẫn về trang phục truyền thống của dân tộc Thái.

------------------------------------------------------

Xên bản – Lễ tạ ơn và cầu an của dân tộc Thái

Đến hẹn lại lên, hàng năm vào ngày hai tháng 4 theo lịch Thái, những ngày nông nhàn tới, khi cây lúa lên xanh tốt, cũng là lúc người Thái ở bản Ten, xã Thanh Xương, huyện Điện Biên tưng bừng tổ chức lễ Xên bản. Đây là lễ cúng thần bản hàng năm ở các bản của người Thái, được dân bản coi như ngày hội đặc sắc của dân tộc mình.

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d35 425ca95b.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2695)

Múa xòe trong lễ xên bản ở bản Ten, xã Thanh Xương.

Là cư dân miền núi, sống dựa hoàn toàn vào ruộng, nương và chăn nuôi, phụ thuộc vào thiên nhiên, người Thái quan niệm “ vạn vật hữu linh” tức là bất kỳ con vật, sinh vật nào cũng có linh hồn. Đồng bào tin rằng: mường trời (mường then) là nơi ở của các vị tổ tiên, thần linh, cai quản trời đất, loài người và vạn vật. Ở trần gian, nơi đâu cũng có các ma cai quản. Muốn lập bản, làm ruộng, làm nương, bắt cá, nuôi con vật, đều phải xin phép các ma…Những đấng siêu nhiên này có 1 vị trí quan trọng trong tâm thức của đồng bào, là lực lượng phù hộ độ trì, bảo vệ và cũng có thể làm hại đến những người đang sống. Hàng năm, bà con trong bản tổ chức cúng Xên bản để cầu xin sự phù hộ độ trì cho các thành viên trong bản khoẻ mạnh, mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt, vật nuôi trong bản không gặp dịch bệnh, loại trừ được các mối nguy hiểm có thể làm hại đến mình.

Địa điểm tổ chức lễ cúng xên bản của người Thái ở mỗi nơi có sự khác biệt riêng, lế xên bản ngày nay có những thay đổi nhất định so với các nghi thức ngày trước, tuỳ theo tình hình, điều kiện của từng bản. Lễ xên bản ở bản Ten năm nay diễn ra ngay ở nhà văn hoá trung tâm của bản. Nơi dựng bàn thờ cúng thần bản là 1 lán nhỏ vật liệu chủ yếu bằng gianh, tre, nứa, cách nhà văn hoá bản khoảng 10m. Người thực hiện lễ cúng xên bản là thầy mo. 1 ngày trước khi tiến hành cúng xên bản, thầy mo đến nơi đặt bàn thờ: thắp hương, cúng, báo với các thần: ngày mai, bản sẽ tổ chức xên bản để các thần không đi ruộng, đi nương làm, ở nhà dự lễ xên bản.

8h sáng, lễ xên bản bắt đầu được tiến hành. Dân bản phải chuẩn bị thực phẩm dùng trong lễ xên bản từ tờ mờ sáng. Lễ vật dâng cúng thần bản gồm: 1 con lợn luộc được cắt rời từng bộ phận, khi xếp lên mâm cúng được xếp thành hình con lợn, vịt luộc (thứ không thể thiếu để cúng thần nước), gà luộc, cá nướng, cùng rượu, đường, sữa, hoa quả, trầu cau. Ngoài ra, trong lán nơi để bàn thờ cúng thần còn có 4 chiếc gùi sắp thành 2 gánh; 1 gánh gồm gùi đựng đất, hạt lúa đã ngâm, 1 gánh đựng vỏ trấu, gạo, tượng trưng cho việc đem giống và phân bón ra ngoài ruộng, nương, trồng cấy để có vụ thu hoạch lúa đầy bản. Thầy mo mặc trang phục truyền thống đến trước bàn thờ và bắt đầu cúng, mời thần bản về dự lễ và hưởng thụ những lễ vật dân bản thành tâm dâng cúng. Thầy mo tay cầm 3 que hương được châm, quay theo hình tròn, vừa quay vừa mời: thần mưa, thần gió, thần sấm, thần sét, thần linh thổ địa, thần khai sinh lập địa ra đất Điện Biên và thần lập bản. Nói xong, thầy mo tung 2 cục gỗ hình dài nếu như tung được 1 mặt trắng 1 mặt đen, tức là thần linh đã nghe thấy và xuống dự. Sau đó, thầy mo cúi lậy 3 lần và bắt đầu mời các thần xuống dự và ăn thịt: lợn, gà, vịt…ăn hết các món trong mâm mà dân bản đã dâng lên cúng mời. Mời các thần ăn đầy đủ các bộ phận của con vật và cầu xin các thầy phù hộ để mùa màng tươi tốt, vật nuôi chóng lớn, dân bản khoẻ mạnh. Sau khi cúng thần linh xong, thầy mo sẽ ngậm nước thiêng vào miệng và phun ra 4 phía, cầu cho mưa thuận gió hoà. Mọi người đến dự sẽ được mời ăn uống vui vẻ ngay tại nhà văn hoá của bản. Nhiều trò chơi dân gian cũng diễn ra trong ngày tổ chức lễ xên bản. Các trò chơi trong dịp này chủ yếu là múa xoè và ném còn. Bà con trong bản cùng người dự lễ đều có thể tham gia các trò chơi trong tiếng chiêng, trống vang lừng khắp bản. Người Thái quan niệm rằng: Vòng xoè càng rộng, tiếng chiêng trống càng vang xa, ném được nhiều còn qua vòng tròn thì năm đó đời sống dân bản càng no ấm, yên vui, gặp nhiều may mắn.

Xên bản thực chất là lễ tạ ơn và cầu an của dân tộc Thái đối với các vị thần linh phù hộ độ trì cho dân bản được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Cúng xên bản là 1 nét đẹp văn hoá của dân tộc Thái giống như ngày hội làng của bà con miền xuôi. Ngày nay, đây là 1 trong những hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng giúp cho đồng bào có điều kiện gần gũi và đoàn kết với nhau hơn, đồng thời cũng là dịp để ôn lại những truyền thống, bảo lưu văn hoá dân tộc.

tuyemthoi
19-09-2008, 02:46 PM
9 - Dân tộc Nùng

Dân tộc Nùng có gần khoảng 706.000 người, sống tập trung ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Hà Bắc, Tuyên Quang.

Người Nùng gồm có các nhóm: Xuồng, Giang, Nùng An, Nùng Lòi, Phàn Sinh, Nùng Cháo, Nùng Inh, Quý Rịn, Nùng Dín, Khen Lài.

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d35 88a385b1.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2697)

Trang phục người Nùng Inh

Tiếng nói của người Nùng rất gần với tiếng Tày và thuộc hệ ngôn ngữ Tày-Thái. Tiếng Nùng có văn tự là nôm Nùng xuất hiện từ thế kỷ XVII.

Đồng bào Nùng thờ tổ tiên là chính. Bàn thờ để một buồng trong nhà, trên bàn thờ tổ tiên là bàn thờ các vị tiên, thánh, thần, Khổng Tử, và Quan âm Bồ tát.

Nguồn sống chính của người Nùng là cây lúa và cây ngô. Họ kết hợp làm ruộng nước ở các khe dọc với trồng lúa cạn trên sườn đồi. Đồng bào Nùng có trồng nhiều cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm như quýt, hồng... Hồi là cây quý nhất của đồng bào, hàng năm mang lại nguồn lợi đáng kể. Các ngành nghề thủ công đã phát triển, phổ biến nhất là nghề dệt, tiếp đến là nghề mộc, đan lát và nghề rèn, nghề gốm.

Đồng bào Nùng sồng thành từng bản trên các sườn đồi. Thông thường trước bản là ruộng nước, sau bản là nương và vườn cây ăn quả. Đồng bào ở nhà sàn làm bằng gỗ tốt, lợp ngói máng hoặc lợp tranh. Đồng bào Nùng mặc áo chàm. Tấm áo chàm của người Nùng đã từng che cho Bác Hồ khi Bác từ nước ngoài về sống và hoạt động cách mạng ở Pắc Bó (1941).

Một số vùng đồng bào còn lưu truyền câu truyện cổ với sự tích màu chàm là màu chung thuỷ của người vợ trẻ chờ chồng đi đánh giặc giữ nước. Người Nùng thích ăn các món xào mỡ lợn. Món ăn độc đáo và được coi là món ăn sang trọng của đồng bào là "khau nhục". Hình thức mời nhau uống rượi chéo chén có lịch sử từ lâu đời, nay đã thành tập quán của đồng bào.

Đồng bào Nùng có một kho tàng văn hoá dân gian phong phú và có nhiều làn điệu dân ca đậm đà màu sắc dân tộc. Tiếng Sli giao duyên của thanh niên Nùng Lạng Sơn hoà quyện vào âm thanh tự nhiên của núi rừng gây nhiều ấn tượng sâu sắc cho những ai đã một lần đến xứ Lạng. Then là điệu dân ca tổng hợp có lời, có nhạc, có kiểu trang trí, có hình thức biểu diễn đã làm rạo rực tâm hồn bao chàng trai Nùng khi ở xa quê hương.

Lễ hội nổi tiếng thu hút được nhiều người, nhiều lứa tuổi khác nhau là hội "lùng tùng" (còn có nghĩa là hội xuống đồng) được tổ chức vào tháng giêng hàng năm.

------------------------------------------------------------------------------------------------------

Những năm tháng hoạt động bí mật trong khu rừng Việt Bắc của Bác Hồ, có chuyện kể lại rằng: Để đi qua những điếm canh của địch trên đường công tác Bác đã đóng vai một ông già Nùng. Bác đóng khéo đến nỗi đi qua trạm gác nào cũng lọt. Một bộ đồ chàm cũ, một khăn chàm quấn đầu, một tay nải chàm đeo vai, một chiếc gậy tre gậy trúc... vậy là Bác thành Ông Ké bản làng. Việt Bắc, “Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hoà”, một giang sơn chập chùng rừng núi ấy là nơi sinh sống của ngót một triệu đồng báo dân tộc Nùng. Nếu đến các tỉnh miền núi phía Bắc, bạn sẽ có dịp vào bản làng người Nùng, sống nhiều nhất ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Hà Giang, Thái Nguyên...

Những ngày lễ tết bạn sẽ được mời rượu theo phong tục Nùng, là quàng tay qua nhau, khách uống bát rượu của chủ và ngược lại, ấy là cách để thắt chặt tình thâm giao mà chủ nhà dành cho khách quý.

Bạn được thết đãi món khâu nhục, đặc sản hấp dẫn nhất của cư dân ở đây. Đồng bào Nùng nói, ăn một miếng khâu nhục là nhớ tới già người làm ra món khâu nhục. Thế đấy. Người Nùng thường sống xen với nhiều dân tộc khác, đặc biệt là người Tày. Màu chàm của quần áo, tập quán sinh hoạt, truyền thống canh tác... của người Tày và người Nùng cộng với địa bàn sinh sống làm ăn gần gũi qua nhiều thế kỷ khiến nhiều người khó phân biệt được Tày và Nùng và cũng nhiều người nói gộp cả “Tày-Nùng” như thể đây là một nhóm dân tộc vậy. Nhưng thực sự họ là hai dân tộc khác nhau. Dân tộc Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái. Bên cạnh nhiều nét tương đồng thì Tày và Nùng cũng có nhiều nét riêng mang rõ đặc tính dân tộc mình. Cùng là người Nùng nhưng tuỳ vào địa phương nơi mình sinh sống hay cùng nguồn cội xa xưa mà có nhiều chi nhỏ, nhiều tên gọi khác nhau như Nùng An, Nùng Lòi, Nùng Dân, Khen Lai, Xuồng, Giang, v.v. Xa xưa người Nùng cũng có văn tự riêng, nhưng do cuộc sống khó khăn, nhiều thế hệ thất học nên chữ viết cũng dần mai một. Sau này, khi đất nước giành được độc lập, Việt Bắc, quê hương của người Nùng lại là căn cứ cách mạng nên người già, trẻ em sớm được theo học các lớp bình dân học vụ, những lớp tiểu học ban đêm và chữ quốc ngữ phổ thông được du nhập mạnh mẽ từ ngày đó. Dân trí được nâng lên rõ rệt qua từng năm tháng khi hoà bình lập lại. Các trường học mở tới tận bản làng. Con em được cắp sách tới trường. Những gia đình khó khăn, vùng sâu vùng xa con em được nhận vào học những trường dân tộc nội trú của huyện, của tỉnh. Đến này trong số người Nùng, nhiều trí thức đủ ngành nghề được đào tạo và đang phục vụ trên nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật, văn hoá nghệ thuật.

Nói đến văn hoá người Nùng, trước hết phải nói tới những đêm sli giao duyên, hội then, lời và nhạc quyện vào trong làn điệu trữ tình làm say lòng nhiều chàng trai cô gái. Tôi còn nhớ những năm chiến tranh sống trong một tiểu đoàn đặc công núi. Đêm đó chúng tồi đón giao thừa. Vậy là những anh lính trẻ mặc sức vui hát giữa rừng già Tây Nguyên. Khi điệu Then ai đó cất lên là mấy chàng lính trẻ Nùng-Tày đứng lên cùng đưa tay uyển chuyển, cùng cất lên lời ca quen thuộc. Sinh hoạt cộng đồng trong nền văn hoá dân tộc lâu đời của người Nùng đã gắn kết những người cùng dân tộc, cùng gần gũi tập quán sinh hoạt và họ nhanh chóng trở thành anh em, dẫu mỗi người có thể từ Lạng Sơn hay Tuyên Quang, Bắc Kạn. Ngày hội nổi tiếng mà ngày nay đã trở thành quen thuộc của người Nùng, người Tày chính là hội Lòng Tòng (hội xuống đồng) được tổ chức vào mùa xuân, sau tết Nguyên Đán.

Gia đình người Nùng sống trong sự đùm bọc, gắn bó giữa cha mẹ, anh em, vợ chồng. Trong nhà bàn thờ tổ tiên ông bà được đặt nơi trang trọng nhất. Trong mỗi nhà còn thờ Mẹ Hoa, Mẹ Cửa. Theo quan niệm lâu đời của người Nùng, Mẹ Hoa là vị thần bảo vệ cho trẻ em, con thơ còn Mẹ Cửa là thần giữ nhà. Dựng vợ gả chồng cho con cái là việc hệ trọng của bậc làm cha làm mẹ, tuy nhiên cũng trên cơ sở các chàng trai cô gái được tìm hiểu, thuận ý. Khi đã lấy nhau, điều hệ trọng là phải chung thuỷ. Người vợ tự ý li dị thì phải hoàn trả đồ sính lễ cưới xin trước đây. Đây chỉ là sự ràng buộc về mặt tập tục, điều chính yếu là các cặp vợ chồng Nùng vô cùng chung thuỷ. Đó cũng là một nét đẹp văn hoá có tính truyền thống. Con của anh chị em trong gia đình căn cứ vào tuổi mà xưng hô anh hay chị, em chứ không lệ thuộc vào thứ bậc của bố mẹ trong gia đình hay trong dòng họ.

Ngôi nhà truyền thống của người Nùng thường có hai hình thức. Hoặc nhà sàn hoặc nhà đất như dưới xuôi. Nhà thường dựng ở những khu đất cao, lưng chừng đồi . Theo các cụ già Lạng Sơn kể lại thì người Nùng còn có một loại nhà độc đáo, gọi là nhà phòng thủ hay nhà cố thủ. Đó là loại nhà có tường bao tầng trệt dày chừng 40 phân tới nửa mét. Trên tường người ta đục những lỗ nhìn ra ngoài như lỗ châu mai. Nghe đâu còn có cả súng đặt sẵn tại những ổ “châu mai” để sẵn sàng đối phó với mọi bất trắc. Đó là loại nhà cổ, ở những nơi biên ải, heo hút, dùng để tự bảo vệ khi có giặc giã, thổ phỉ cướp bóc. Nhưng cũng chỉ được nghe kể lại vậy thôi, còn những chuyến công tác lên Việt Bắc tôi cố gắng tìm để biết một kiến trúc nhà cửa độc đáo này, nhưng nhà “phòng thủ” có lẽ chỉ còn là sản phẩm của quá khứ.

--------------------------------------------

Hát Sli (vả Sli)

Hát Sli (vả Sli) là một làn điệu đặc trưng của dân tộc Nùng. Có thể kể đến một số kiểu loại chính như: Người Nùng Cháo có Sli Slình làng, nguời Nùng Giang có Sli Giang, người Nùng Phàn slình có Sli bốc, sli Phàn slình… Sli bốc là một trong số những lối hát giao duyên hai bè của một số ngành Nùng ở vùng núi phía Bắc.

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d35 bec41ea3.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2698)

Đây là một hình thức hát đối đáp ngoài trời của thanh niên nam nữ để làm quen, tìm hiểu nhau trên đường đi chợ. Sli bốc được hát ứng khẩu, không trình tự với nội dung phong phú, chủ yếu là tình yêu nam nữ. Như thể loại hát đối đáp nam nữ người Việt, hát Sli bốc là hát đôi theo cặp hai nam hai nữ. Có một điều đặc biệt là kĩ thuật hát Sli bốc được sử dụng ở đây là kĩ thuật hát bè cao thấp.

Thực chất Sli (vả Sli) là một hình thức hát thơ (kiểu như Phong Slư của dân tộc Tày nhưng cơ bản khác nhau về mặt tính chất). Sli của đồng bào Nùng được coi là một thể loại trữ tình dùng trong các ngày hội, ngày chợ, ngày cưới, ngày vào nhà mới…

Trước đây, đã là người Nùng, hầu hết ai cũng biết hát Sli, yêu thích Sli bởi ngoài việc ví, đối … lời hát Sli còn được coi như tiếng hát giao duyên. Hát Sli thể hiện sự ứng đối tài hoa của mỗi người với những lời Sli ví von, bóng bẩy, tinh nghịch, xa xôi, ẩn chứa rất nhiều hàm ý… Đối với Sli giao duyên, thường do một đôi trai gái hoặc một vài đôi trai gái thể hiện theo lối đối đáp. Bao giờ cũng có người đứng ra Sli trước (kiểu mời gọi lĩnh xướng). Người hát trước thường là người có giọng vang, trong và phải có khả năng ứng đối khéo léo, tài tình và nhanh nhậy.

Khi bên này vừa ngừng tiếng Sli (hỏi) thì bên kia cũng phải có người nhanh chóng cất lời Sli để đáp lại. Lời Sli đôi khi không chỉ bao hàm nội dung mượt mà, tế nhị của chuyện tình cảm ấm nồng, đằm thắm của bao đôi trai gái mà còn có cả muôn mặt của đời sống như các hiện tượng tự nhiên, các mốc thời gian cùng sự kiện nhân vật và lịch sử… đôi khi có cả những lời chào mời sang trọng, những lời thách đố kiêu ngạo, đáng yêu… Về hình thức thể loại, nhìn chung Sli có những bài thơ có độ dài ngắn khác nhau. Có bài Sli chỉ khoảng 4 đến 8 câu, lại có những bài Sli dài đến hàng trăm câu, câu thơ thường chỉ có từ 5 đến 7 chữ. Vần của bài thơ được xác định bởi vần của chữ cuối cùng câu đầu tiên của bài thơ. Các chữ cuối cùng của các câu chẵn tiếp theo được gieo gối vần trên cơ sở hiệp vần với chữ cuối cùng câu đầu tiên. Thông thường vần trong bài Sli đều là thanh bằng. Chẳng hạn bài Hội chợ- Sli Phàn Slình ở hội chợ Xuân Dương(Na Rì): Vằn này bươn sham háng nhì hả Dỉ noọng quẩy sẩy mại cần mà Shíp nhì bươn pi vằn toọc Đếch kế Sli cốc tèo mà lầy… (Hôm nay ngày hội 25 tháng 3 Anh em ở gần xa về dự Cả năm chỉ có một ngày như thế Trẻ già, trai gái tới cùng vui…).

Có thể nói, Sli là một làn điệu mang đậm dấu ấn bản sắc của đồng bào dân tộc Nùng. Đến nay, người biết hát Sli không nhiều, nhất là Sli theo đúng nguyên bản ngày xưa. Đây chính là nét văn hóa đặc sắc rất cần được bảo tồn và phát huy.

--------------------------------------------

Nghi lễ ma chay của dân tộc Nùng Bắc Kạn

Cũng như các dân tộc khác , dân tộc Nùng Bắc Kạn cũng có những nghi lễ về việc hiếu rất riêng. Dân tộc Nùng quan niệm khi người thân chút hơi thở cuối cùng là lúc chia tay với trần gian để về cõi âm, do vậy con cháu sẽ mời thầy cúng về để làm các thủ tục tiễn đưa linh hồn của người đã chết về nơi an nghỉ cuối cùng được suôn sẻ. Để báo hiếu cho người đã chết con cháu phải làm đầy đủ nghi lễ không được để sót bất cứ bước nào.

Khi nhà có người chết con cháu chưa được khóc , chỉ khi nào thầy tào đến khâm niệm con cháu mới được khóc. Con cháu phải đun nước bằng các loại lá thơm để tắm rửa thay quần áo cho người chết. Nếu người chết là gái thì mặc 9 áo, nếu là nam thì mặc 7 áo. Người con trai trưởng lấy đồng tiền xu đặt vào lưỡi hoặc vào tay của người đã chết coi đó là tiền khi qua cầu. Sau khi hoàn tất các thủ tục thầy tào mới tiến hành khâm niệm. Có nơi con cháu khâm niệm người quá cố bằng tấm vải trắng, nhưng cũng có nơi khâm niệm bằng vải màu vàng. Sau khi khâm niệm xong người chết sẽ được đặt ra gian giữa trong nhà, đầu quay về phía bàn thờ, màn chỉ mắc 3 góc, kiểu mắc màn này để phân biệt giữa người chết và người sống.

Cũng như dân tộc Kinh, giờ nhập quan được người Nùng rất coi trọng, vì người Nùng quan niệm giờ nhập quan không chỉ liên quan đến người chết mà còn liên quan đến cả người sống. Vì thế người nào không may chết phải giờ xấu thì có khi vài ngày mới chọn được giờ nhập quan. Trước khi đưa xác vào quan tài thì áo quan đã được lót bằng gạo rang hoặc chè khô để hút chống mùi hôi thối. Khi đưa xác vào áo quan thì thầy tào đọc một tờ giấy gọi là tờ “phan”, tờ giấy đó được ghi rõ thân thế của người đã chết, trước khi nắp quan tài được đóng lại tờ giấy đó được bỏ vào trong coi như biên bản bàn giao của người sống và người chết.

Nghi lễ dâng đèn hoa cho người chết được gọi là Lễ tâng khay lò, có lễ này người chết mới nhìn rõ đường về thế giới bên kia. Trước khi mặc áo tang con cháu phải cầm áo tang đến bên linh cữu của người chết để lạy. Sau khi đã nhập quan, con cháu phải kiêng không được ngủ trên giường, không cắt tóc, không ăn thịt mỡ... trong 40 ngày đầu để tỏ lòng báo hiếu với người đã chết. Đó là trước kia , còn ngày nay hầu như những thủ tục cổ hủ này đã được xóa bỏ, tình trạng người chết để lâu ngày trong nhà hầu hết đã không còn. Lễ dâng cơm được thực hiện ngày 2 lần vào buổi sáng và buổi chiều. Người Nùng quan niệm sống thế nào thì chết như vậy, ngày dâng cơm cho người chết vào 2 bữa là thể hiện lòng thành kính.

Lễ cây tiền, cây bạc được mỗi người con rể làm bằng giấy xanh, đỏ, vàng, trắng cao thấp tùy tâm để bố mẹ mang về thế giới bên kia. Khi đưa ma cây tiền, cây bạc mang theo để đốt tại mộ. Lễ qua lửa được thực hiện trước khi đưa lĩnh cữu đi đồ đạc của người chết được đốt hết hoặc hơ lửa để không còn hồn vía của người qúa cố. Khi đưa quan tài khỏi ra cửa thầy tào làm phép để hồn không còn luẩn quẩn trong nhà quấy phá người sống. Lễ hạ huyệt được người Nùng chọn đất rất kỹ, chọn nơi đất phát và chọn giờ tốt mới hạ huyệt .Sau khi chôn cất được 3 hôm, con cháu sẽ mời thầy tào đến nơi chôn cất để tiến hành nghi lễ mở cửa mộ để báo cho sơn thần biết và đón nhận người chết về cõi âm. Người Nùng thường để tang bố 2 năm, tang mẹ 3 năm, trong thời gian này không đựơc tổ chức cưới hỏi, làm nhà.

Nghi lễ ma chay của người Nùng ngày nay đã tiến bộ hơn trước đây rất nhiều, tuy nhiên ở một số nơi vùng sâu , vùng xa vẫn còn nặng nề cần được dần dần loại bỏ.

tuyemthoi
19-09-2008, 03:11 PM
10 - Dân tộc Hmông (Mèo)

Người Hmông vùng Tây Bắc có 473.514 người chiến tới 60,12% tổng số người Hmông cư trú ở toàn quốc. Người Hmông vùng Tây Bắc là một dân tộc có truyền thống văn hoá giàu bản sắc, sáng tạo nhiều thành tựu đạt đến đỉnh cao, thích ứng với môi trường khắc nghiệt. Nhưng trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập toàn cầu hoá, đời sống văn hoá người Hmông Tây Bắc xuất hiện nhiều vấn đề bức xúc, một số yếu tố văn hoá không phù hợp, trở thành lực cản, một số thành tựu bị mai một không được phát huy, một bộ phận người dân chối bỏ tín ngưỡng truyền thống đặt niềm tin vào yếu tố ngoại lai… Trước thực trạng như vậy cần phải xây dựng hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao và phát triển đời sống văn hoá của người Hmông vùng Tây Bắc.

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d35 f2ca08ee.gif (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2699)

Đồng bào dân tộc HMông ở huyện Mù Cang Chải vay vốn phát triển đàn bò

I. Các thành tựu văn hoá truyền thống:

1. Tây Bắc là vùng nằm ở phương vị Tây Bắc của thủ đô Hà Nội. Vùng Tây Bắc bao gồm vùng đất từ bờ phải sông Hồng đến lưu vực sông Đà, sông Mã, gồm địa bàn các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu, Hoà Bình.

Người Hmông vùng Tây Bắc cư trú đông nhất là tỉnh Lai Châu (có 170.460 người), tiếp đến tỉnh Lào Cai (có 123.778 người), tỉnh Sơn La (có 114.578 người), tỉnh Yên Bái (có 60.073 người) và ít nhất là tỉnh Hoà Bình (có 3.962 người)(1). Địa bàn cư trú của người Hmông là các dãy núi cao nhất nước ta. Độ cao bình quân của các làng người Hmông cư trú từ 900 đến 1.600m. Đây là vùng đất cao nhất, hiểm trở nhất. Độ chia cắt sâu, chia cắt ngang từ lớn đến rất lớn. Độ dốc từ 150 đến 250 và vùng Tây Hoàng Liên Sơn trên 250. Địa hình phức tạp gây nhiều khó khăn cho đời sống văn hoá.

2. Người Hmông trong quá trình phát triển tộc người đã sáng tạo một số thành tựu văn hoá rực rỡ về nhiều lĩnh vực. Trong kinh tế truyền thống, tuy ở vùng cao điều kiện tự nhiên khó khăn nhưng người Hmông đã sáng tạo và xác lập mô hình canh tác nương rẫy thích hợp với từng tiểu vùng khác nhau.

Đặc điểm nổi bật trong thế ứng xử văn hoá với môi trường tự nhiên của người Hmông là luôn vượt khó khăn, linh hoạt và tạo ra khả năng thích ứng văn hoá cao với môi trường tự nhiên khắc nghiệt.
Người Hmông cư trú ở bất cứ một trường nào đều tạo ra khả năng thích nghi một cách linh hoạt. Người Hmông ở các huyện Mường Khương, Bắc Hà tỉnh Lào Cai cư trú ở vùng núi đá đã canh tác trên loại hình nương thổ canh hốc đá. Các mảnh nương này nằm cheo leo trên các sườn núi đá vôi nhỏ hẹp, tiếng Hmông gọi là "Tế kho dế". Để bảo vệ đất khỏi xói mòn, đồng bào xếp đá be bờ. Tùy theo địa hình, xếp đá be bờ theo từng kiểu khác nhau. Ở những hốc đá đất ít, người Hmông nhặt các hòn đá xếp vào khe giữa các mô đá ngăn thành gờ nhỏ giữ đất cho từng hốc, từng mảnh đất nhỏ. Ở các vạt đất rộng, người Hmông dùng đá be thành các bờ dải giữ đất, chống xói mòn. Ở loại nương này, người Hmông dùng cuốc làm đất

Ở khu vực còn rừng già, người Hmông phát rừng làm nương dốc tiếng Hmông gọi là "Tế giống". Loại nương dốc này dễ bị xói mòn nên người Hmông chỉ canh tác được vài ba vụ phải di chuyển luân canh. Tuy nhiên loại nương rẫy còn rất ít.

Trên các sườn đồi nương thoai thoải, ít dốc người Hmông khai khẩn thành các nương bậc thang, tiếng Hmông gọi là "Tế kế đây". Nương bậc thang bề ngang hẹp nhưng tương đối bằng phẳng xung quanh nương đồng bào đắp bờ nhỏ để giữ ẩm, giữ nước mưa. Phía trên đường xẻ rãnh có hệ thống thoát nước khi mưa to nhằm chống xói mòn. Ở nương bậc thang, đồng bào dùng cày trong khâu làm đất. Nương bậc thang là gạch nối giữa ruộng và nương. Tuy nhiên nương bậc thang chưa phải là ruộng vì thiếu nước và đất có độ thẩm thấu lớn.

Đặc biệt tại các huyện miền Tây Lào Cai, Yên Bái và một số huyện ở Lai Châu, Sơn La, người Hmông còn sáng tạo ra loại hình canh tác trên ruộng bậc thang độc đáo. Quy trình khai khẩn ruộng bậc thang là một điển hình ở thế ứng xử linh hoạt với môi trường. Trước khi tiến hành khai khẩn ruộng bậc thang, người Hmông phải chọn vùng đất có sườn núi núi có độ dốc dưới 400 có nguồn nước tự nhiên hoặc nước mạch đùn tương đối bằng phẳng và có mùn dày. Người Hmông thường khai khẩn ngay sau khi ăn tết. Công việc làm ruộng bậc thang rất nặng nhọc nên phải huy động cả dòng họ hoặc trai tráng cả làng tham gia. Đầu tiên người Hmông dùng dao phát sạch cây cỏ. Sau đó tuỳ từng loại hình địa hình nếu mảnh đất chọn có độ dốc cao sẽ đào, san ruộng từ phía trên núi xuống chân núi. Nếu có độ dốc thấp, ít mùn sẽ đào, san ruộng từ phía dưới lên. Công cụ đoàn san ruộng thường dùng cuốc bướm, nơi nhiều đá, rễ cây phải dùng cuốc chim. Khi san ruộng, cả tập thể lao động phải chú ý tạo điểm chuẩn để san bề mặt ruộng, khi đào và san ruộng bậc thang cố gắng triệt tiêu độ chênh lệch trên mặt bằng của thửa ruộng. Đồng thời phải chú trọng làm bờ giữ nước ngay từ khi san ruộng. Bờ nhỏ nhưng phải lèn chặt, chống thẩm thấu. Khi có ruộng, người Hmông còn xây dựng hệ thống mương dẫn nước khá công phu. Mương phải đào sâu từ 40cm đến 50cm, rộng từ 80cm đến 100cm. Mạch mương chảy theo đường lượn của đường đồi chảy vào thửa ruộng đầu tiên. Khi gặp địa hình gẫy cắt người Hmông khoét thân gỗ to làm máng (đường kính từ 40 cm - 50 cm). Nơi có địa hình hiểm trở phải làm cả một dàn máng dẫn nước. Người Hmông còn đào các rãnh dẫn nước từ ruộng trên xuống ruộng dưới theo nguyên tắc so le nhằm tránh vỡ bờ, trôi mầu. Có ruộng, người Hmông còn có kỹ thuật cày, bừa làm đất thích hợp với các thửa ruộng bậc thang hẹp bề ngang.

Nhìn chung người Hmông khai phá và canh tác trên nương rẫy theo mỗi loại địa hình khác nhau có kiểu canh tác khác nhau. Trên nương bằng ruộng và nương bậc thang người Hmông dùng cày. Trên nương thổ canh hốc đá người Hmông dùng cuốc. Trên nương dốc núi đất, người Hmông dùng gậy chọc lỗ, hoặc cuốc bướm; bộ nông cụ làm đất của người Hmông khá độc đáo, thích hợp với từng loại địa hình.
Cày nương là loại cày thô khỏe. Thân cày ngắn, kể cả phần đế dài hơn 70cm. Thân ngắn tạo điều kiện di chuyển dễ dàng ở địa hình chật hẹp và giúp người cày có thể nhanh chóng cày nên tránh vấp phải đá hoặc rễ cây to. Bắp cày là bộ phận chịu lực lớn nhất, được cấu tạo cong, thô và rất chắc. Loại gỗ chọn làm bắp cày thường là gỗ dẻo, cứng. Bắp cày cong tạo điều kiện đất đổ được dễ dàng, thích hợp với cày nương dốc, có nhiều sỏi đá. Cày không có náng. Bằp cày lên hoặc ấn chóp xuống. Lưỡi cày được luyện kỹ thường nặng từ 4 - 5 kg gấp rưỡi lưỡi cày của người Tày, Thái. Lưỡi cày có hình tam giác cân, phía cạnh đáy dày, phía đỉnh mỏng. Lưỡi cày dài khoảng 30 - 32 cm, chỗ đáy rộng nhất là 20 cm. Do phải cày trên dốc có nhiều đá lộ đầu, rễ cây lớn và nhiều cỏ tranh nên lưỡi cày đầu hơi tù, hai bên rìa lưỡi rất sắc có thể cắt đứt từng loại rễ cây lớn. Thân lưỡi cày có cấu tạo hình dạng cong như vỏ đỗ khi va chạm ít bị gẫy, có thể luồn, lách dễ hơn, lật đất được cả hai bên, có thể lấy số đo là một cẳng chân, bằng cách dận bàn chân lên lưỡi cày mà đầu gối vừa chạm đầu mút của lưỡi cày là được. Số đo độc đáo này tạo cho cày vận hành tốt, luồn lách được vùng đồi dốc, có nhiều đá. Cày Hmông có hai loại, loại cày nhỏ dùng làm đất ướt, loại cày to, lưỡi ngắn dùng ở nơi đất cứng, nhiều đá.

Cuốc bướm là công cụ làm đất đặc thù của người Hmông. Lưỡi cuốc bằng sắt, rộng khoảng 20 cm, cao 12 cm. Lưỡi cuốc hình bán nguyệt, hai bên rìa hơi khum, sắc, Chuôi cuốc cong gập có họng tra cán, độ cong gập tuỳ thuộc vào địa hình canh tác có độ dốc nhiều hay ít (góc xiên từ 450 đến 750). Cán cuốc ngắn, lưỡi bè dùng để xới đất, trốc cỏ, vun… thích hợp với vùng đất tơi khô.

Dao quắm của người Hmông nhỏ, cán ngắn, lưỡi dài, đầu cong như mỏ qụa, rìa lưỡi thẳng tới gần đầu mút mới cong lại, thích hợp với việc phát và moi móc cỏ trong các khe đá.

Ngoài công cụ làm đất trên, một số nơi còn dùng bừa răng gỗ bừa đất khô. Bừa to khỏe răng thưa.

Nhờ hệ thống công cụ làm đất độc đáo và thích hợp với địa hình vùng cao nên đảm bảo giữ được độ phì cho đất, làm ải đất, có điều kiện thâm canh cao. Đồng thời trong kỹ thuật canh tác nương rẫy người Hmông rất coi trọng các biện pháp thâm canh khác. Cây lương thực chính ở vùng cao là ngô. Nhưng người Hmông lại lựa chọn một tập đoàn cây lương thực thích hợp với từng loại đất, hoặc từng thời gian trên cùng một mảnh nương.

- Đất mới khai phá trồng ngô khoảng 3 vụ
- Vụ thứ 4 trồng lúa nương
- Vụ thứ 5 trồng sèo hoặc ý dĩ
- Đất bạc màu trồng đậu tương

Người Hmông còn áp dụng kỹ thuật xen canh gối vụ: Trồng ngô vào tháng hai, giữa các hốc ngô lại trồng xen vài ba khóm đậu. Hoặc trộn cám hạt rau, bí, đậu với phân hữu cơ bón cho ngô, đậu, rau bí xen canh ngô, đậu. Hết vụ ngô vào tháng 7, đồng bào lại tra đậu Hà Lan và đậu Răng Ngựa. Ngô, rau đậu gối xen canh, tạo điều kiện cho rễ các loại họ đậu làm tăng độ phì của đất, tăng năng xuất ngô. Đặc biệt ở tất cả các loại nương, ở các vùng thượng huyện Bắc Hà người Hmông có kỹ thuật gieo hạt xen canh: 4 khóm ngô trồng xung quanh, ở giữa trồng đậu hoặc rau cải. Mạch trồng xen canh với ngô, với tỷ lệ một ống ngô giống trộn xen với năm hạt mạch. Đồng bào còn dùng kỹ thuật xen canh cây trồng ngay cùng một thời gian gieo trồng. Có loại đậu xen canh được tra thành hốc ở khoảng trống giữa các hốc ngô. Còn các loại rau, bầu, bí, dưa chuột… thì tra cùng một gốc với ngô. Ở nhiều nơi người Hmông còn áp dụng chế độ luân canh hợp lý. Một nương bằng gieo trồng hàng chục năm, đất bạc màu sẽ trồng cây tống quán sủ. Cây lên nhanh lá rụng phủ nhiều năm lại chặt cây gieo trồng ngô.

Người Hmông còn áp dụng việc dùng phân hữu cơ chăm bón cây trồng. Mỗi gia đình có hố ủ phân bò, trâu, ngựa với tro bếp. Phân gia súc phơi khô và đem ủ một thời gian với tro bếp đến khi phân chuyển thành mầu trắng trộn với hạt ngô bón lót. Sau một thời làm cỏ lại bón thúc một lượng phân nhỏ cho ngô.

Kỹ thuật xen canh hợp lý vừa tận dụng hết chất màu của nương vừa góp phần phủ thảm thực vật chống xói mòn. Nhưng biện pháp chống xói mòn hiệu quả nhất là đào những con mương "con rắn" tiêu nước chắn phía trên hoặc đào chéo qua mặt nương để hạn chế nước chảy tràn qua mặt nương. Đồng thời, đồng bào còn áp dụng kỹ thuật be bờ, đắp đá. Đồng bào tạo ra những gờ đá ngăn giữa các hòn đá lớn hoặc những bờ đá nhỏ chạy vòng lưng núi để giữ đất.

Tóm lại trong điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho trồng lương thực, người Hmông áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật tổng hợp để kéo dài tuổi thọ của nương. Đó là các biện pháp làm đất thích hợp với từng loại địa hình, thâm canh kết hợp với xen canh, luân canh, chống xói mòn. Nhờ vậy nương của người Hmông được khai thác triệt để, thời gian canh tác kéo dài hàng chục năm.

Trong kinh tế người Hmông còn sáng tạo một số nghề thủ công tinh xảo đạt đến đỉnh cao của ngành nghề thủ công các dân tộc miền núi như nghề rèn đúc, nghề trồng lanh dệt vải, nghề mộc. Hầu hết các làng Hmông vùng Tây Bắc còn giữ được nghề trồng lanh dệt vải với nhiều công đoạn phức tạp từ sơ chế nguyên liệu đến kỹ thuật nhuộm cho bền mầu. Đặc biệt là kỹ thuật dùng sáp ong vừa làm tăng vẻ đẹp, độ bóng của vải vừa tăng giá trị bền, chống giá rét(1. Nếu như các dân tộc trong vùng chỉ sử dụng một, hai kỹ thuật tạo hoa văn thì riêng người Hmông áp dụng tổng hợp nhiều kỹ thuật tạo hoa văn như kỹ thuật thêu, ghép vải, ghép kim loại, in hoa văn sáp ong. Do đó bộ trang phụ người Hmông thực sự là một tác phẩm nghệ thuật tạo hình độc đáo (nhất là các bộ trang phục cưới, trang phục mặc khi sang thế giới bên kia). Nhiều mẫu thêu hoa văn trên váy người Hmông như những dấu ấn lịch sử ghi lại lịch sử di cư của người Hmông. Ví dụ trên tấm váy của phụ nữ Hmông Lềnh có ba băng dải ngang hoa văn phản ánh 3 vùng đất cư trú trong quá trình thiên di trong lịch sử người Hmông. Dải hoa văn bên trên biểu tượng dòng sông Hoàng Hà, dải giữa là sông Trường Giang, dải phía dưới là núi rừng phương nam(2). Hoặc hoa văn trên cổ áo người Hmông SaPa còn mang phong cách của các nền văn hoá Phùng Nguyên, Hạ Long cách ngày nay 3 - 4.000 năm.

Nghề rèn đúc là một nghề nổi tiếng của đồng bào Hmông. Sản phẩm phổ biến của nghề rèn đúc Hmông là lưỡi cày to khỏe, những con dao sắc, lưỡi cuốc bướm và cả nòng súng. Sản phẩm nghề rèn của người Hmông có giá trị như một loại đặc sản nổi tiếng. Lưỡi cày Hmông khỏe, cắt được rễ cây, cỏ tranh, cày đất khô với độ sâu từ 10 đến 15 cm. Dao Hmông được coi như một công cụ quý, vì dao Hmông vừa sắc, vừa bền hơn bất cứ con dao nào trong vùng.

Phương pháp rèn đúc là phương pháp thủ công nhưng kỹ thuật đã đạt trình độ cao, nhất là khả năng nhìn màu thép để đưa vào tôi. Đây là bí quyết để tạo nên những sản phẩm nổi tiếng. Người Hmông vừa rèn được nòng súng vừa khoan nòng súng bằng phương pháp khoan nước.

Nghề mộc ở người Hmông cũng được coi trọng. Người Hmông đóng thùng đựng nước, nhuộm chàm, làm chậu, muôi, thìa gỗ… Công cụ làm mộc rất đơn giản, chỉ một chiếc rìu, một con dao không có bào, đục, cưa nhưng vẫn dựng được nhà, sản xuất đồ dùng, ghép thùng nước. Trong nghề mộc đồng bào không sử dụng các loại đinh, chủ yếu dùng kỹ thuật ghép mộng, nhưng nhiều đồ dùng đựng nước vẫn bền, nước không rò rỉ ra.

Trong văn hoá người Hmông đã xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý, thích ứng với điều kiện tự nhiên không thuận lợi.

Cơ cấu kinh tế truyền thống của người Hmông gồm 03 bộ phận chính: Trồng trọt, chăn nuôi và hái lượm, tiểu thủ công nghiệp và trao đổi. Cơ cấu kinh tế này tạo ra thế "chân kiềng" trong phát triển, nhờ nó người Hmông xác lập được thế cân bằng, duy trì sự bền vững tương đối ở môi trường thiên nhiên có nhiều bất lợi cho sản xuất lương thực. Trong cơ cấu kinh tế truyền thống, trồng trọt luôn đóng vai trò chính, chăn nuôi, nghề thủ công chỉ đóng vai trò phụ và luôn phụ thuộc vào trồng trọt. Chăn nuôi nhằm cung cấp sức kéo vận chuyển cho trồng trọt (trâu, bò, ngựa) và cung cấp nguồn phân hữu cơ phục vụ thâm canh. Ngoài ra các sản phẩm của chăn nuôi chỉ đáp ứng nhu cầu ăn thịt và các sinh hoạt tôn giáo, văn hoá. Sản phẩm chăn nuôi chưa trở thành hàng hoá. Ngược lại khả năng trồng trọt không chỉ hỗ trợ mà còn trực tiếp chi phối đến chăn nuôi. Thức ăn tinh chủ yếu để nuôi lợn, gia cầm là ngô, gạo nên những năm được mùa ngô, lúa lợn gà đều phát triển và ngược lại năm mất mùa đàn lợn, gà bị giảm sút nghiêm trọng. Hoạt động các ngành nghề thủ công chỉ đóng vai trò phụ và luôn phụ thuộc vào kinh tế nông nghiệp. Vì thế thời gian dành cho nghề thủ công là những lúc nông nhàn. Nghề thủ công tăng thêm nguồn thu nhập cho nông nghiệp, phục vụ nông nghiệp (nhất là nghề rèn đúc). Ngoài ra kinh tế hái lượm, trao đổi hàng hoá ở chợ phiên cũng thực hiện chức năng hỗ trợ cho nông nghiệp. Cơ cấu kinh tế này tồn tại như một hệ thống chỉnh thể, thực hiện các chức năng hỗ trợ cho nhau, khuyết một trong những yếu tố đó, toàn bộ đời sống người Hmông sẽ mất cân đối (xem sơ đồ). Như vậy có thể nói cơ cấu kinh tế truyền thống Hmông gồm 3 bộ phận cấu thành (trồng trọt, chăn nuôi và hái lượm, nghề thủ công và trao đổi hàng hoá) như hình tam giác cân có đỉnh là trồng trọt.

Trồng trọt chiếm địa vị chủ đạo trong điều kiện vùng cao, canh tác trên đất dốc, nhưng năng suất cây trồng người Hmông vẫn cao hơn cây trồng của các dân tộc cùng làm nương rẫy khác. Bởi vì trong trồng trọt, người Hmông áp dụng nhiều biện pháp thâm canh có hiệu quả, sử dụng công cụ làm đất có hiệu quả cao (cày, cuốc bướm…).
Kinh tế truyền thống người Hmông thích hợp với điều kiện môi trường có nhiều rừng, mật độ dân số ít chỉ có 10 đến 15 người trên 1km2. Với kỹ thuật thâm canh cao, kết hợp chặt chẽ với trồng trọt, chăn nuôi, nghề thủ công nên kinh tế truyền thống người Hmông suốt một thời gian dài vẫn giữ được sự ổn định tương đối.

Mặt khác trong kinh tế truyền thống ở một môi trường không thuận lợi đã góp phần tạo ra khả năng thích ứng của người Hmông với môi trường. Người Hmông có cả truyền thống ứng xử với môi trường vùng cao, trong chừng mực nhất định và thời điểm đất canh tác còn nhiều, khả năng thích ứng đó phát huy hiệu quả. Đặc biệt là ý thức lao động cần cù, kiên nhẫn chịu đựng khó khăn, khai thác kinh tế cũng như trí thông minh sáng tạo đã góp phần giúp người Hmông xây dựng cuộc sống tương đối ổn định hơn các dân tộc khác (Phù Lá, La Hủ, La Ha, Kháng…)

3. Trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt người Hmông cũng xây dựng được các thiết chế xã hội linh hoạt góp phần bảo tồn dân tộc. Nhiều sử gia cho rằng, khi quốc gia của người Miêu (Hmông) ở vùng nam Trung Quốc bị người Hán xâm lược, người Miêu phải di cư từ miền Đông sang miền Tây và về phương Nam. Trong quá trình thiên di đầy máu và nước mắt, người Hmông luôn có khát vọng bảo vệ sự sinh tồn của cộng đồng tộc người. Khát vọng này trở thành hằng số trong lịch sử và văn hoá. Khi về phương nam, người Hmông bị cư trú phân tán, không duy trì được các thiết chế xã hội lớn, họ đề cao các thiết chế xã hội có quy mô nhỏ như dòng họ, làng.

Thiết chế dòng họ của người Hmông có một sự cố kết chặt chẽ theo những cấp độ khác nhau. Những người có chung tên họ quan niệm xưa kia đều có chung tổ tiên, đều cùng huyết thống. Do đó họ không được phép kết hôn với những người có cùng chung tên họ. Những người cùng dòng họ là anh em cùng họ, cùng tổ tiên. Trong mỗi dòng họ đều có quy ước, đều có các dấu hiệu kiêng kỵ khi làm tang, cúng ma, có huyền thoại kể về sự tích tổ tiên. Do đó sự cố kết giữa những người cùng dòng họ, cùng tổ tiên rất chặt chẽ. Thành viên trong cùng dòng họ trong cư trú phân tán khác tỉnh, khác quốc gia nhưng đều có nghĩa vụ coi nhau như anh em một nhà, có thể ốm đau hoặc chết ngay trong nhà người cùng dòng họ, đồng thời mỗi thành viên đều có nghĩa vụ giúp đỡ, tương trợ nhau khi gặp khó khăn hoạn nạn. Chính sự cố kết trong dòng họ lại là sợi dây gắn bó các thành viên cư trú xé lẻ phân tán thành một lực lượng đoàn kết đấu tranh bảo vệ dòng họ, bảo vệ sự sinh tồn của dân tộc. Người Hmông dù thuộc bất kỳ ngành nào, quê quán ở đâu nhưng khi đã tự xưng là "Pế Hmông" có nghĩa là "người Hmông ta" thì tất cả đều trở thành một cộng đồng thân thiết có nghĩa vụ đoàn kết tương trợ lẫn nhau. Sự cố kết này thực sự tạo nên sức mạnh trong tình cảm dân tộc, tình cảm huyết thống của người Hmông, là cội nguồn sức mạnh đoàn kết trong cuộc đấu tranh sinh tồn bảo vệ quyền lợi của dân tộc.

4. Người Hmông còn sáng tạo kho tàng văn hoá truyền thống vừa mang tính thống nhất nhưng cũng hết sức đa dạng và phong phú. Tính đa dạng phong phú thể hiện ở cả văn hoá vật thể và phi vật thể. Nhà cửa người Hmông là nhà nền đất nhưng có nhiều kiểu khác nhau. Ở vùng biên giới là nhà kiểu nền đất tường trình dày. Ở vùng Sa Pa là nhà nền đất tường ghép gỗ pơ mu hoặc ở các vùng nội địa ghép gỗ...Về trang phục, mỗi ngành Hmông có kiểu trang phục khác nhau. Người Hmông Đơ (Hmông trắng), phụ nữ mặc áo xẻ ngực váy lanh trắng. Phụ nữ Hmông Đen váy có nhiều băng dải hoa văn in sáp ong màu chàm đen, cánh tay áo có khoang thêu hoa văn. Phụ nữ Hmông Lềnh áo xẻ nách thêu nhiều hoa văn nẹp cổ, ống tay, váy rực rỡ sắc màu. Phụ nữ Hmông Xanh mặc váy, áo màu chàm như người Tày trong vùng. Đặc biệt phụ nữ Hmông ở Sa Pa, ở một số xã thuộc huyện Than Uyên - ( nay thuộc Lai Châu), Sơn La lại mặc quần cộc.

Văn học dân gian người Hmông cũng rất phong phú gồm nhiều thể loại như thần thoại, truyện cổ tích, dân ca, tục ngữ, truyện thơ, sử thi... Mỗi thể loại còn có nhiều loại hình khác nhau: thần thoại có sự tích kể về nguồn gốc vũ trụ, con người, muôn loài...Truyện cổ tích có truyện cổ tích động vật, truyện cổ tích thần kỳ (truyện kể về các dũng sĩ tài ba, truyện mồ côi), truyện cổ tích sinh hoạt xã hội. Dân ca Hmông cũng có nhiều loại như dân ca giao duyên, dân ca than thân, dân ca nghi lễ, phong tục gia đình...Trong các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc bên cạnh người Thái, người Mường thì dân tộc Hmông có kho tàng âm nhạc dân gian giàu bản sắc, có nhiều giá trị nhất. Nhà nghiên cứu Hồng Thao cho biết, dân tộc Hmông có tới 14 làn điệu dân ca và 15 loại nhạc khí khác nhau.

Văn hoá dân gian người Hmông không những phong phú, đa dạng mà có nhiều loại hình đã đạt đến đỉnh cao, trở thành loại hình đặc sắc trong kho tàng văn hoá các dân tộc thiểu số như loại hình truyện cổ tích, loại hình dân ca, đặc biệt là tác phẩm "khúa kê" và "tiếng hát làm dâu", loại hình nghệ thuật trang trí trên trang phục... Trong tôn giáo tín ngưỡng người Hmông, sa man giáo là loại hình tôn giáo đặc biệt có giá trị nghiên cứu lịch sử tôn giáo các dân tộc Nam Trung Quốc và lịch sử tôn giáo người Hmông.

Như vậy, trong truyền thống lịch sử, người Hmông đã sáng tạo ra các giá trị văn hoá đặc sắc. Đó là việc canh tác nương rẫy theo mô hình người Hmông thích ứng với từng loại hình, coi trọng kỹ thuật thâm canh đa canh. Đó là hệ thống thiết chế xã hội nhỏ nhưng bền vững, như quan hệ dòng họ, quan hệ giao, thích ứng với một xã hội phải cư trú phân tán, không còn lãnh thổ tộc người. Đó là hệ thống đời sống văn hoá tinh thần phong phú đạt tới đỉnh cao trong mặt bằng văn hoá dân gian. Những giá trị văn hoá này đã góp phần đưa người Hmông vượt khỏi những cam go của lịch sử, bảo vệ s ự sinh tồn của dân tộc và bản sắc văn hoá tộc người.

tuyemthoi
19-09-2008, 03:18 PM
11 - Dân tộc Lô Lô

Tên tự gọi: Lô Lô.

Tên gọi khác: Mùn Di, Di, Màn Di, La La, Qua La, Ô Man, Lu Lộc Màn.

Nhóm địa phương: Lô Lô hoa và Lô Lô đen.

Dân số: 3.134 người.

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến (ngữ hệ Hán-Tạng), gần với Miến hơn.

Lịch sử: Họ là cư dân có mặt rất sớm ở vùng cực bắc của Hà Giang.

Hoạt động sản xuất: Người Lô Lô chủ yếu làm ruộng nước và nương định canh với các cây trồng chính như lúa nếp, lúa tẻ và ngô. Chăn nuôi gia đình tương đối phát triển và là một nguồn lợi đáng kể.

Ăn: Người Lô Lô chủ yếu ăn ngô bằng cách xay thành bột đồ chín. Bữa ăn phải có canh. Họ thường dùng bát và thìa bằng gỗ.

Mặc:
+ Trang phục nữ
Phụ nữ có nhóm mặc áo cổ tròn, xẻ ngực, có nhóm mặc áo cổ vuông chui đầu, quần chân què, có nơi bên ngoài còn quấn xà cạp. Trang trí trên y phục bằng hoa văn chắp ghép những mảng vải màu to. Họ có sử dụng hoa văn in bằng sáp ong. Phụ nữ Lô lô để tóc dài quấn ngang đầu. Bên cạnh đó họ còn dùng khăn quấn thành nhiều lớp trên đầu hoặc đội. Khăn cũng được trang trí các mô típ hoa văn và các tua vải màu sắc sặc sỡ. Ngoài ra còn có loại mũ khăn trang trí hoa văn theo lối ghép vải - một phong cách mỹ thuật khá điển hình của cư dân Tạng - Miến (mà Lô lô là tộc biểu hiện khá tập trung và điển hình). Các nhóm Lô lô ăn mặc khác nhau. Xưa người Lô lô phổ biến loại áo dài cổ vuông, tay dài, chui đầu (vùng Bảo Lạc, Cao Bằng), hoặc loại áo ngắn thân cổ vuông, ống tay áo nối vào thân, có thể tháo ra. Cạnh đó còn có loại áo cánh ngắn, xẻ ngực, cổ cao, tròn cài cúc. Nhóm Lô lô trắng có áo dài lửng ống tay rộng, xẻ nách cao, theo kiểu đuôi tôm, cổ áo gấu áo trước và sau được trang trí hoa văn trên nền sáng; hoặc còn có loại tương tự màu chàm nhưng ít trang trí hoa văn. Váy là loại kín (hình ống). Cạp váy chỉ dùng để dắt váy, dưới cạp được chiết ly, thân váy được thêu, ghép hoa sặc sỡ. Bên ngoài còn có tấm choàng váy, hai mép và phía dưới được trang trí hoa văn. Có nhóm mặc quần, đi giày vải.

+ Trang phục nam
Nam giới Lô lô thường mặc áo xẻ nách năm thân dài tới gối, màu chàm. Quần cũng là loại xẻ dùng màu chàm. Trong đám tang mặc áo dài xẻ nách, trang trí hoa văn sặc sỡ theo từng chi và dòng họ

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d61 53cc90a9.gif (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2769)

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d61 45926626.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2768)

Thiếu nữ dân tộc Lô Lô trong trang phục truyền thống.

Ở: Tuỳ từng nơi họ sống trong ba loại nhà: nhà trệt, nhà sàn hoặc nhà nửa sàn nửa đất ở các huyện Ðồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang), Bảo Lạc (Cao Bằng), Mường Khương (Lào Cai).

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d61 3f4e5043.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2767)

Ðại bộ phận người Lô lô ở nhà nền đất, tường trình, cư trú theo khuôn viên từng gia đình. Mỗi khuôn viên có nhà bếp và chuồng gia súc riêng. Ngày nay, mỗi khuôn viên ấy có hàng rào xếp đá vây quanh trong đó có cổng ra vào.

Phương tiện vận chuyển: Người Lô Lô quen dùng gùi đan bằng mây, giang, có hai quai để chuyên chở; địu trẻ em trên lưng khi đi xa hoặc lúc làm việc.

Quan hệ xã hội: Người Lô Lô sống tập trung trong các bản tương đối ổn định. Tính cộng đồng tộc người thể hiện rõ nét.
Có hơn 30 dòng họ khác nhau. Mỗi dòng họ thường quần tụ trong phạm vi một làng bản, thờ cúng chung một ông tổ và có một khu nghĩa địa riêng nằm trong nghĩa địa chung của công xã. Người Lô Lô thích các quan hệ hôn nhân nội tộc người và thực hiện nguyên tắc ngoại hôn giữa các dòng họ.

Cưới xin: Phong tục cưới xin của người Lô Lô mang nặng tính gả bán với việc thách cưới cao (bạc trắng, rượu, thịt...). Sau hôn nhân, cô dâu cư trú bên chồng. Con trai cô có thể lấy con gái cậu song không được ngược lại.

Sinh đẻ: Phụ nữ khi mang thai phải kiêng kỵ nhiều trong chế độ ăn uống và sản xuất. Sản phụ đẻ ở nhà với sự giúp đỡ của bà mụ trong bản. Sau 12 ngày làm lễ đặt tên cho con và có thể đổi tên nếu đứa trẻ hay khóc hoặc chậm lớn.

Ma chay: Tang ma có nhiều lễ thức độc đáo như hoá trang, nhảy múa, đánh lộn... Dấu vết của tục săn đầu còn thể hiện khá rõ ở hiện tượng một người luôn đeo chiếc túi vải có đựng khúc gỗ hay quả bầu có vẽ mặt người trong tang lễ.

Thờ cúng: Người Lô Lô thờ cúng tổ tiên, bố mẹ và những người thân đã mất. Trên bàn thờ có những bài vị hình nhân bằng gỗ, vẽ mặt bằng than đen. Linh hồn giữ vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh.

Lễ tết: Tết Nguyên đán như người Hán và người Việt. Ngoài ra còn có tục ăn Cơm mới, tết Ðoan ngọ, Rằm tháng bảy...

Lịch: Họ sử dụng lịch truyền miệng chia năm thành 11 tháng, mỗi tháng tương ứng với một con vật.

Học: Khoảng thế kỷ thứ 14 người Lô Lô đã có chữ tượng hình với 140 bộ thủ. Người ta dùng phương pháp ghép bộ thủ để diễn đạt nghĩa. Chữ được ghi trên các tấm gỗ mỏng, trên da thú hoặc loại giấy dày, thô. Tới nay chỉ có một số gia đình còn giữ lại được một vài mảnh có ghi lại loại chữ đó mà ít ai đọc được.

Văn nghệ: Là một trong số ít các dân tộc ở nước ta hiện nay còn sử dụng trống đồng trong sinh hoạt. Trống đồng là một nhạc cụ truyền thống của người Lô Lô gắn liền với huyền thoại về nạn hồng thuỷ. Truyện kể rằng: xưa có nạn lụt lớn, nước dâng cao đến tận trời. Có hai chị em nhờ trời cứu để chị vào trống đồng to, em vào trống đồng nhỏ. Hai chị em thoát chết nhờ trống nổi lên mặt nước. Hết lụt họ ở trên núi, sống với nhau thành vợ, thành chồng. Họ là thuỷ tổ của loài người tái sinh.

Trống đồng với tư cách là nhạc khí chỉ được dùng trong đám tang, giữ nhịp cho các điệu múa dân gian của cộng đồng. Quan niệm về âm dương, sự sinh sôi nảy nở có lẽ còn được bảo tồn rõ ràng với lối hoà tấu hai trống đực và cái cùng một lúc. Trống treo trên giá đặt ở phía chân người chết; mặt của hai trống quay lại với nhau. Người đánh trống đứng ở giữa, cầm dùi đánh bằng hai đầu, cứ một đầu dùi đánh một trống. Chỉ những người đàn ông chưa vợ hoặc có vợ không ở trong thời kỳ thai nghén mới được đánh trống.

Trống đồng không những là một tài sản quý, một nhạc cụ độc đáo mà còn là một khí cụ mang tính chất tôn giáo. Có tiếng trống đồng thì hồn người chết mới tìm được đường về nơi sinh tụ đầu tiên của tổ tiên. Chỉ có trong đám ma mới đánh trống đồng. Ngày thường, người ra chôn trống dưới đất ở nơi sạch sẽ, kín đáo.

----------------------------------------------------------------

Phong tục đón tết của người Lô Lô

Lô Lô là một trong những dân tộc ít người nhất tại Việt Nam, từ nhiều đời nay vốn định cư và sinh sống trên cao nguyên đá Đồng Văn, Hà Giang.

Không quá ồn ào, khoa trương, những phong tục tập quán trong ngày Tết của người Lô Lô mộc mạc những rất hấp dẫn và đầy sức sống. Có lẽ đó là chính là sức mạnh để bộ tộc chỉ với vài trăm thành viên tồn tại vững trãi hàng nghìn năm nơi địa đầu của tổ quốc.

Trời rất lạnh, chỉ khoảng 5 độ C, nhưng những người thợ vẫn đang hối hả và gấp gáp cố hoàn thành ngôi nhà cho ông Sin A Gai kịp đón Tết. Người Lô Lô quan niệm: “sống nhớ về tổ tiên ông bà chứ không phải sống nhớ về món ăn”. Vì vậy ông Gai rất mong ngôi nhà kịp hoàn thành, lấy chỗ cúng ông bà trong ngày Tết.

Người Lô Lô quan niệm khi bước sang năm mới trong nhà không chỉ có ngũ cốc, mà phải có nhiều củi và nước - biểu hiện một năm làm ăn sung túc. Ngoài mặt tâm linh thì việc tích trữ đó rất thực tế ở mãnh đất đầy khắc nghiệt này. Khoảng giữa tháng chạp và cả tháng riêng là lúc rét và khô hạn nhất, nhiệt độ thường chỉ vài độ C, chính vì vậy củi và nước là rất cần thiết.

Không khí chuẩn bị đón xuân nhộn nhịp nhất nơi địa đầu tổ quốc này có lẽ vẫn là những thiếu nữ Lô Lô. Các cô đang hoàn thành nốt những mũi kim cuối cùng cho bộ áo váy truyền thống. Giờ đây thường ngày các cô gái Lô Lô đã ăn mặc theo lối hiện đại, nhưng biết may và may đẹp áo váy truyền thống vẫn là điều kiện mà các chàng trai Lô Lô rất quan tâm khi chọn vợ.

Với người Lô Lô đêm giao thừa là đêm nhộn nhịp nhất trong năm, cả làng đều thức. Các cụ bà cùng trẻ em bên bếp lửa hồng với nồi bánh chưng và kể chuyện cổ tích râm ran; các cụ ông thì nhâm nhi chén rượu; thanh niên, thiếu nữ thì đi qua các nhà để xin lộc bằng cách “lấy trộm” vài thanh củi, mấy ngọn rau hay vài cành ngô khô đem về nhà. Khắp nơi hương khói, trong nhà đèn sáng tỏ, ngoài đường thắp lên những ngọn đuốc sáng rực. Thanh niên và trẻ con đổ ra các ngả đường và tập trung ở các sân chơi để chờ gà gáy sáng. Theo phong tục, người Lô Lô đón năm mới bằng tiếng gà gáy đầu tiên.

thanhruoi
20-09-2008, 09:59 AM
http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/24848d 4654a185a1.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2700)Tên tự gọi: Có người cho Bru là tên tự gọi. Tên gọi khác: Bru, Vân Kiều. Nhóm địa phương: Vân Kiều, Trì, Khùa, Ma Coong. Dân số: 40.132 người

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn- Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần gũi với Tiếng Tà Ôi, Cơ Tu. Chữ viết mới hình thành theo cách phiên âm bằng chữ cái Latinh. Giữa các nhóm có một số từ vựng không giống nhau.

Lịch sử: Họ thuộc số dân cư được coi là có nguồn gốc lâu đời nhất ở vùng Trường Sơn

Hoạt động sản xuất: Canh tác rẫy, trồng lúa là chính; nông cụ đơn giản: rìu, dao quắm, gậy trỉa, cái nạo cỏ có lưỡi cong. Cách thức sản xuất: phát rừng, đốt, rồi chọc lỗ gieo hạt giống, làm cỏ, tuốt lúa bằng tay; đa canh - xen canh trên từng đám rẫy kéo dài hàng năm từ tháng 3 đến tháng 10. Ngoài trồng các giống lúa tẻ, nếp, còn trồng sắn, bầu, chuối, cà, dứa, khoai mía v.v... Rừng và sông suối cung cấp nhiều thức ăn cùng nguồn lợi khác. Chăn nuôi trâu (về sau có cả bò), lợn, gà, chó là phổ biến.

Nghề thủ công không phát triển. Quan hệ trao đổi hàng hoá chủ yếu với người Việt và người Lào.

Ăn: Người Bru-Vân Kiều thích các món nướng. Canh thường nấu lẫn rau với gạo và cá hoặc ếch nhái. Họ ăn cơm tẻ thường ngày; khi lễ hội, cơm nếp nấu trong ống tre tươi; quen ăn bốc, uống nước lã, rượu cần (nay rượu cất là thông dụng). Nam nữ đều hút thuốc lá, tẩu bằng đất nung hoặc làm từ cây le.



http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/24848d 465b320e4e.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2701)

Ðan lát là công việc dành riêng cho đàn ông. Họ cho ra đời các loại gùi, giỏ và nhiều đồ gia dụng cần thiết khác. Chiếc gùi trong ảnh được đan bằng mây, dùng vào việc đi lấy củi, lấy nước... phục vụ cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày.


Mặc: Theo phong tục, nam đóng khố, nữ mặc váy, còn áo không có tay, mặc chui đầu. Vải chủ yếu mua ở Lào. Y phục kiểu người Việt thời nay đã trở thành phổ biến, tập quán mặc váy vẫn được bảo lưu. Trước kia thường dùng vỏ cây rừng đập dập lấy xơ để che thân. Ðồ trang sức thường đeo là các loại vòng ở cổ, tay, khuyên tai. Xưa đàn ông, đàn bà đều búi tóc, riêng thanh nữ búi lệch tóc về phía bên trái, khi đã có chồng tóc được búi trên đỉnh đầu.

Ở: Người Bru-Vân Kiều sống ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên thuộc miền tây các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên- Huế, Quảng Bình. Mỗi làng là một điểm cư trú quần tụ. Mỗi gia đình có nhà riêng, ở nhà sàn, bếp lửa bố trí ngay trên sàn nhà, kiêng nằm ngang sàn. Nhóm Trì, Khùa, Ma Coong nhà thường ngăn thành buồng làm chỗ ngủ riêng cho vợ chồng gia chủ, cho bố mẹ già (nếu có), cho con đã lớn.

Phương tiện vận chuyển: Người Bru-Vân Kiều dùng các loại gùi, đeo gùi sau lưng, 2 quai gùi quàng vào đôi vai. Chiếc gùi gắn bó khăng khít với mỗi người như hình với bóng, là vật dụng vận tải đa năng.

Quan hệ xã hội: Dân làng thuộc các dòng họ khác nhau, cùng sinh sống trên một địa vực, trong đó đất trồng trọt thuộc về từng gia đình, kể cả khi bỏ hoá. Người "già làng" có vai trò quan trọng đối với đời sống của làng. Sự giàu-nghèo hình thành, nhưng hầu hết các hộ trong làng tương đối khác biệt nhau. Tài sản được xác định bằng chiêng, cồng, ché, nồi đồng, trâu v.v..

Hiện tượng người bóc lột người không phổ biến.


http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/24848d 4667129208.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2702)


Cưới xin: Cô dâu về ở đằng nhà chồng, nhà trai tổ chức cưới vợ cho con và phải biếu đồ sính lễ cho nhà gái, trong đó có thanh kiếm và thường cả chiếc nồi đồng nữa. Sau lễ cưới, đôi vợ chồng còn phải làm "lễ cưới" lần thứ 2 khi có điều kiện về kinh tế, gọi là lễ Khơi, để người vợ chính thức được coi là thành viên dòng họ nhà chồng. Theo tục lệ, việc con trai cô lấy con gái cậu được khuyến khích, việc kết hôn giữa vợ goá với anh hoặc em chồng cũng như giữa chồng goá với chị hoặc em vợ đều được chấp thuận và khi dòng họ A đã gả con gái cho dòng họ B thì dòng họ B không gả con gái cho dòng họ A nữa.

Sinh đẻ: Phụ nữ khi mang thai kiêng ăn thịt các con vật sa bẫy, không bước qua cây nằm ngang đường v.v... Họ đẻ con tại nhà, có bà mụ vườn đỡ đẻ. Trẻ sơ sinh được đặt tên sau vai ba tháng, phải tránh trùng với tên của người đã khuất trong dòng họ, nhưng thường các tên trong nhà được đặt cùng vần nhau.

Ma chay: Tử thi ở nhóm Vân Kiều được đặt năm ngang sàn nhà, chân hướng về phía cửa sổ, ở các nhóm Khùa và Ma Coong thì tử thi được đặt dọc sàn, chân hướng về phía cửa chính. Sau 2-3 ngày mới đưa ma, chôn người chết vào bãi mộ chung của làng. Quan tài gỗ đẽo độc mộc, gồm hòm và nắp; xưa kia có nơi người chết được bó trong vỏ cây hoặc tấm đan bằng giang, nứa. Chọn đất đào huyệt theo cách dùng trứng gà thả rơi, vỡ trứng là được. Tang gia trước khi mai táng mỗi ngày cúng cơm đặt thức ăn vào miệng tử thi 3 lần (sáng, trưa, tối), khi chôn cất phải dành phần cho người chết nhiều thứ từ đồ mặc đến vật dụng thông thường và cả giống mía, ngô, khoai môn, v.v...

Thờ cúng: Người Bru-Vân Kiều chú trọng thờ cúng tổ tiên. Theo họ, hiện thân của "linh hồn" các thân nhân quá cố là những mảnh nồi, mảnh bát v.v... đặt trong chòi nhỏ dựng riêng. Có nơi thờ cúng cả thần bản mệnh: mỗi người trong gia đình có một chiếc bát đặt chung trên bàn thờ tại nhà. Người ta rất tin và các "thần linh" (Yang): thần lúa, thần bếp lửa, thần núi, thần đất, thần sông nước v.v... Ma gia đình đằng vợ (Yang cu gia) cũng được con rể thờ cúng.

Lễ tết: Người Bru-Vân Kiều có nhiều lễ cúng khác nhau trong quá trình canh tác lúa rẫy nhằm cầu mùa, gắn với các khâu, phát, trỉa và thu hoạch. Ðặc biệt lễ thức trước dịp trỉa lúa diễn ra như một ngày hội của dân làng. Trong một đời người, mỗi người cũng có hàng loạt nghi lễ cúng quải về bản thân mình: khi ra đời, lúc đau ốm, khi qua đời, lúc thành hôn v.v... Lễ cúng có đâm trâu là lễ trọng nhất. Tết đến từng làng sớm muộn khác nhau, nhưng đều vào thời gian sau kỳ tuốt lúa.

Lịch: Họ căn cứ vào mặt trăng để định ra các ngày và tên ngày trong tháng. Quan niệm có những ngày tốt (nhất là mùng 4, 7, 9) và những ngày xấu (nhất là 30 và mùng 1). Mỗi năm, lịch nông nghiệp Bru-Vân Kiều gồm 10 tháng, tiếp đến thời kỳ nghỉ ngơi, chơi bời trước khi bước vào mùa rẫy mới.

Văn nghệ: Người Bru-Vân Kiều có nhiều truyện cổ được truyền miệng, kể về sự tích các dòng họ, nguồn gốc dân tộc, về đề tài người mồ côi v.v... Có các điệu hát như: Oát là loại hát đối đáp giao duyên. Prdoak là hát chúc vui, chúc tụng khi có việc mừng. Xươt là hát vui trong các sinh hoạt vui đùa đông người. Roai tol, Roai trong là loại hát kể lể nặng nề, oán trách. Adâng kon là hát ru trẻ con. Trong đám ma và lễ hội đâm trâu thường có múa kết hợp với hát. Nhạc cụ phổ biến là: cồng, chiêng, đàn Achung, Plư, Ta-lư, kèn Amam, Ta-ral, khèn Pi, nhị, đàn môi, trống, sáo...





st:vietnamculture

thanhruoi
20-09-2008, 10:06 AM
http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/24848d 4674baa247.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2703)

Tên gọi khác: Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời...

Nhóm địa phương: Chăm Hroi, Chăm Poổng, Chà Và Ku, Chăm Châu Ðốc.

Dân số: 98.971 người.

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô - Polynéxia (ngữ hệ Nam Ðảo).

Lịch sử: Dân tộc Chăm vốn sinh tụ ở duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời, đã từng kiến tạo nên một nền văn hoá rực rỡ với ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá ấn Ðộ. Ngay từ những thế kỉ thứ XVII, người Chăm đã từng xây dựng nên vương quốc Chăm pa. Hiện tại cư dân gồm có hai bộ phận chính: Bộ phận cư trú ở Ninh Thuận và Bình Thuận chủ yếu theo đạo Bà la môn (một bộ phận nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm Bà ni). Bộ phận cư trú ở một số địa phương thuộc các tỉnh Châu Ðốc,Tây Ninh, An Giang, Ðồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh theo đạo Islam (Hồi giáo) mới.

Hoạt động sản xuất: Người Chăm có truyền thống nông nghiệp ruộng nước, giỏi làm thuỷ lợi và làm vườn trồng cây ăn trái. Bên cạnh việc làm ruộng nước vẫn tồn tại loại hình ruộng khô một vụ trên sườn núi. Bộ phận người Chăm ở Nam Bộ lại sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới, dệt thủ công và buôn bán nhỏ, nghề nông chỉ là thứ yếu.

Nghề thủ công phát triển ở vùng Chăm nổi tiếng là dệt lụa tơ tằm và nghề gốm nặn tay, nung trên các lò lộ thiên. Việc buôn bán với các dân tộc láng giềng đã xuất hiện từ xưa. Vùng duyên hải miền Trung đã từng là nơi hoạt động của những đội hải thuyền nổi tiếng trong lịch sử.

Ăn: Người Chăm ăn cơm, gạo được nấu trong những nồi đất nung lớn, nhỏ. Thức ăn gồm cá, thịt, rau củ, do săn bắt, hái lượm và chăn nuôi, trồng trọt đem lại. Thức uống có rượu cần và rượu gạo. Tục ăn trầu cau rất phổ biến trong sinh hoạt và trong các lễ nghi phong tục cổ truyền.



http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/24848d 467aa020ae.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2704)

Các sản phẩm gốm bàn xoay của người Chăm rất nổi tiếng và phổ biến ở miền Trung. Phụ nữ giữ vai trò quan trọng trong việc tạo ra các sản phẩm đó

Mặc: Nam nữ đều quấn váy tấm. Ðàn ông mặc áo cánh ngắn xẻ ngực cài khuy. Ðàn bà mặc áo dài chui đầu. Màu chủ đạo trên y phục là màu trắng của vải sợi bông. Ngày nay, trong sinh hoạt hằng ngày, người Chăm ăn mặc như người Việt ở miền Trung, chỉ có chiếc áo dài chui đầu là còn thấy xuất hiện trong giới nữ cao niên.
Ở: Người Chăm cư trú tại Ninh Thuận, Bình Thuận, ở nhà đất (nhà trệt). Mỗi gia đình có những ngôi nhà được xây cất gần nhau theo một trật tự gồm: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ tuổi, nhà của các cô gái đã lập gia đình, nhà bếp và nhà tục trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và là chỗ ở của vợ chồng cô gái út.

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu và thường xuyên vẫn là cái gùi cõng trên lưng. Cư dân Chăm cũng là những người thợ đóng thuyền có kỹ thuật cao để hoạt động trên sông và biển. Họ làm ra những chiếc xe bò kéo, trâu kéo có trọng tải khá lớn để vận chuyển trên bộ.

Quan hệ xã hội: Gia đình người Chăm mang truyền thống mẫu hệ, mặc dù xã hội Chăm trước đây là xã hội đẳng cấp, phong kiến. ở những vùng theo Hồi giáo Islam, tuy gia đình đã chuyển sang phụ hệ, vai trò nam giới được đề cao, nhưng những tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ với việc thờ cúng tổ tiên. Cư dân Chăm vốn được phân thành hai thị tộc: Cau và Dừa như hai hệ dòng Niee và Mlô ở dân tộc £ đê. Về sau thị tộc Cau biến thành tầng lớp của những người bình dân, trong khi thị tộc Dừa trở thành tầng lớp của quý tộc và tăng lữ. Dưới thị tộc là các dòng họ theo huyết hệ mẹ, đứng đầu là một người đàn bà thuộc dòng con út. Mỗi dòng họ lại có nhiều chi họ. Xã hội cổ truyền Chăm được phân thành các đẳng cấp như xã hội ấn Ðộ cổ đại. Họ có những vùng cư trú riêng và có những ngăn cách rõ rệt: không được thiết lập quan hệ hôn nhân, không sống cùng một xóm, không ăn cùng một mâm...

Cưới xin: Phụ nữ chủ động trong quan hệ luyến ái. Hôn nhân cư trú phía nhà vợ, con sinh ra đều theo họ mẹ. Sính lễ do nhà gái lo liệu. Gia đình một vợ một chồng là nguyên tắc trong hôn nhân.

Ma chay: Người Chăm có hai hình thức đưa người chết về thế giới bên kia là thổ táng và hoả táng. Nhóm cư dân theo đạo Bà la môn thường hoả táng theo giáo luật, còn các nhóm cư dân khác thì thổ táng. Những người trong cùng một dòng họ thì được chôn cất cùng một nơi theo huyết hệ mẹ



http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/24848d 46857de695.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2705)
Ðền tháp là di sản văn hoá độc đáo của người Chăm tồn tại hàng bao thế kỷ vẫn luôn gắn bó với đời sống tinh thần, tình cảm của người dân

Nhà mới: Người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận khi dựng nhà mới phải thực hiện một số nghi lễ cúng thần như: cúng Thổ thần để đốn gỗ tại rừng. Khi gỗ vận chuyển về làng phải làm lễ đón cây. Lễ phạt mộc được tổ chức để khởi công cho việc xây cất ngôi nhà.

Lễ tết: Người ta thực hiện nhiều nghi lễ nông nghiệp trong một chu kỳ năm như: lễ khai mương đắp đập, lễ hạ điền, lễ mừng lúa con, lễ mừng lúa ra đòng. Nhưng lễ lớn nhất vẫn là lễ Bon katê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào giữa tháng mười âm lịch.

Lịch: Người Chăm có nông lịch cổ truyền tính theo lịch âm.

Học: Dân tộc Chăm có chữ từ rất sớm. Hiện tồn tại nhiều bia kí, kinh bằng chữ Chăm. Chữ Chăm được sáng tạo dựa vào hệ thống văn tự Sascrit, nhưng việc sử dụng chữ này còn rất hạn hẹp trong tầng lớp tăng lữ và quý tộc xưa. Việc học hành, truyền nghề, vẫn chủ yếu là truyền khẩu và bắt chước, làm theo.

Văn nghệ: Nhạc cụ Chăm nổi bật có trống mặt da Paranưng, trống vỗ, kèn xaranai. Nền dân ca - nhạc cổ Chăm đã để lại nhiều ảnh hưởng đến dân ca - nhạc cổ của người Việt ở miền Trung như trống cơm, nhạc nam ai, ca hò Huế... Dân vũ Chăm được thấy trong các ngày hội Bon katê diễn ra tại các đền tháp.

Chơi: Trẻ em thích đánh cù và thả diều, đánh trận giả, thi cướp cờ, chơi trò bịt mắt bắt dê.




st:vietnamculture

tuyemthoi
21-09-2008, 04:47 PM
12 - Dân tộc Mường

Tên gọi khác: Mol, Mual, Moi, Moi bi, Au tá, Ao tá

Nhóm ngôn ngữ: Việt - Mường

Dân số: 914.600 người.

Cư trú: Cư trú ở nhiều tỉnh phía Bắc, nhưng tập trung đông nhất ở Hòa Bình và các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa.

Đặc điểm kinh tế:

Đồng bào Mường sống định canh định cư ở miền núi, nơi có nhiều đất sản xuất, gần đường giao thông, thuận tiện cho việc làm ăn. Người Mường làm ruộng từ lâu đời. Lúa nước là cây lương thực chủ yếu. Trước đây, đồng bào trồng lúa nếp nhiều hơn lúa tẻ và gạo nếp là lương thực ăn hàng ngày. Nguồn kinh tế phụ đáng kể của gia đình người Mường là khai thác lâm thổ sản như nấm hương, mộc nhĩ, sa nhân, cánh kiến, quế, mật ong, gỗ, tre, nứa, mây, song... Nghề thủ công tiêu biểu của người Mường là dệt vải, đan lát, ươm tơ. Nhiều phụ nữ Mường dệt thủ công với kỹ nghệ khá tinh xảo.

Tổ chức cộng đồng:

Xưa kia, hình thái tổ chức xã hội đặc thù của người Mường là chế độ lang đạo, các dòng họ lang đạo (Đinh, Quách, Bạch, Hà) chia nhau cai quản các vùng. Đứng đầu mỗi mường có các lang cun, dưới lang cun có các lang xóm hoặc đạo xóm, cai quản một xóm.

Hôn nhân gia đình:

Tục cưới xin của người Mường gần giống như người Kinh (chạm ngõ, ăn hỏi, xin cưới và đón dâu) khi trong nhà có người sinh nở, đồng bào rào cầu thang chính bằng phên nứa. Khi trẻ em lớn khoảng một tuổi mới đặt tên.

Tục lệ ma chay:

Khi có người chết, tang lễ được tổ chức theo nghi thức nghiêm ngặt.

Văn hóa:

Đồng bào Mường có nhiều ngày hội quanh năm: Hội xuống đồng (Khung mùa), hội cầu mưa (tháng 4), lễ rửa lá lúa (tháng7, 8 âm lịch) lễ cơm mới...

Kho tàng văn nghệ dân gian của người Mường khà phong phú, có các thể loại thơ dài, bài mo, truyện cổ, dân ca, ví đúm, tục ngữ. Người Mường còn có hát ru em, đồng giao, hát đập hoa, hát đố, hát trẻ con chơi... Cồng là nhạc cụ đặc sắc của đồng bào Mường, ngoài ra còn nhị, sáo trống, khèn lù. Người Mường ở Vĩnh Phú còn dùng ống nứa gõ vào những tấm gỗ trên sàn nhà, tạo thành những âm thanh để thưởng thức gọi là "đâm đuống".

Nhà cửa:

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d61 aa5266b6.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2771)

Một ngôi nhà của người Mường

Ở khu vực Đông Nam Á, nhà sàn là loại hình phổ biến của nhiều dân tộc. Tại Việt Nam, cư trú trên nhà sàn là truyền thống của nhiều dân tộc người như Gia rai, Êđê, Tày, Thái, Mường. Đó là sự thích ứng tối đa với điều kiện sống. Người Mường cư trú trên những ngôi nhà sàn không biết từ bao đời nay. Mặc dầu vậy nhà sàn của người Mường vẫn có nhiều điều đặc biệt khác với nhà sàn của các dân tộc khác. Người xưa có câu “ an cư mới lạc nghiệp”. Một nhu cầu không thể thiếu của con người là nơi cư trú ổn định, an toàn, có nơi để “chui ra rúc vào” rồi mới nói tới phát triển kinh tế, ăn nên làm ra. Do vậy, ngôi nhà là yếu tố hàng đầu đối với đời sống của họ. Đồng bào sống trong những ngôi nhà sàn truyền thống, địa bàn cư trú tập trung chủ yếu ở những dải đồng bằng thung lũng hẹp, doi đất ven sông, ngòi, dưới chân các dãy núi hay trên các đồi gò thấp. Làng bản mường sống tập chung thành từng chòm, từng xóm, ẩn khá kín dưới màu xanh của cây cối trồng quanh nhà. Các bản mường thường có khoản 20 – 30 nóc nhà và nếu bản to thì có thể nhiều hơn nữa. Bản làng thường dựng nơi gần nguồn nước, gần đồng ruộng thuận lợi cho lao động sản xuất. Tuy vậy, bản làng của người Mường ít khi lộ rõ để người ngoài dễ phát hiện vì được bao bọc bởi luỹ tre và cây ăn quả. Đường vào bản thường là những con đường mòn nhỏ quanh co tạo cảm giác dễ nhầm, dễ lạc. Và đối với người Mường, họ không coi trọng trong việc dựng nhà lập bản sao cho thuận tiện giao thông đi lại. Vì lẽ đó mà muốn vào bản làng hay nhà của người Mường thường phải băng qua con đường nhỏ nối làng với đường chính hoặc lội qua những con suối, ngòi. Với người Mường nói chung,nhà là nơi diễn ra và chứng kiến những sự kiện như sinh, hôn, tử của một vòng đời. Từ đó, ngôi nhà không chỉ có ý nghĩa đối với gia đình mà còn mang ý nghĩa cộng đồng xã hội, không chỉ là nhu cầu về vật chất là để trú ngụ nắng mưa, ngủ nghỉ mà còn đáp ứng như cầu tâm linh. Người Mường không coi trọng nhiều đến dựng nhà theo hướng nào mà chỉ cốt thuận lợi cho đi lại cho lao động sản xuất. Từ dụng ý này mà làng bản của người Mường đều giống nhau ở chỗ lộn xộn, chồng chéo, không có sự thống nhất hay quy định chung về hướng nhà. Nhà dựng ở đồi gò thì lưng dựa vào đồi gò, cửa hướng ra khoảng không thung lũng, cánh đồng trước mặt. Nhà dựng ở ven sông thì mặt có thể hướng ra dòng sông hay hướng vào trong… Tất cả những cái tưởng chừng là “lộn xộn” đó lại tạo cho bản làng của người Mường Thanh Sơn cảm giác vừa vững vàng vừa cởi mở với những nét độc đáo riêng. Nhà sàn của người Mường là kiểu kiến trúc cổ truyền. Việc dựng nhà sàn của đồng bào là kết quả của một quá trình dài đúc rút kinh nghiệm cư trú. Điều đó thể hiện ở bản mo nổi tiếng họ là “Te tấc te đác” (đẻ đất đẻ nước). Trong ban mo đồ sộ này có đoạn nói về sự ra đời của nhà sàn người Mường. Mo rằng: khi người Mường sinh ra nhà chưa có nên phải sống trong các hang núi, hốc cây, họ phải đối mặt với nhiều thiên tai hiểm hoạ. Một hôm, ông Đá Cần (còn gọi là lang Cun Cần) bắt được một con rùa đen trong rừng đang định đem ra làm thịt. Rùa van xin Đá Cần tha chết và hứa nếu được thả thì rùa sẽ dạy cho ông cách làm nhà để ở, làm kho để lúa để thịt: “Bốn chân tôi làm nên cột cái Nhìn sườn dài, sườn cụt mà xếp làm rui Nhìn qua đuôi làm trái Nhìn lại mặt mà làm cửa thang cửa sổ Nhìn vào xương sống làm đòn nóc dài dài Muốn làm mái thì trông vào mai Vào rừng mà lấy tranh, lấy nứa làm vách Lấy chạc vớt mà buộc kèo ” Lần dựng thứ nhất, nhà đổ. Ông Đá Cần doạ làm thịt rùa. Rùa lại phải dặn lấy gỗ tốt mà làm cột làm kèo… Từ đó, người Mường biết làm nhà để ở. Trong việc dựng nhà của người Mường đòi hỏi nhiều công đoạn, nhiều sức lực nên đồng bào có tục giúp đỡ nhau. Người giúp gỗ, người giúp lạt, người giúp công, giúp sức. Trước kia để nhận được sự giúp đỡ của dân làng, gia đình làm nhà phải chuẩn bị một lễ nhỏ mang đến nhà Lang để nhờ Lang báo cho mọi người trong bản làng biết. Mỗi gia đình sẽ cử một người đến giúp. Người ta phân công những công việc cụ thể cho mỗi thành viên đảm nhận như xẻ gỗ, đan nứa, pha tre, đan gianh cọ, lợp mái… Gia chủ làm nhà tuỳ vào điều kiện kinh tế mà nhận sự giúp đỡ khác nhau.

Nhà khá giả thì mọi người giúp ít và ngược lại. Theo tục này ở xã Xuân Đài có lệ khi một người làm nhà thì tuỳ vào khả năng mà giúp gỗ, lạt, nứa, lá và mỗi nhà góp ba đến năm Kg gạo nếp, hai chai rượu, một con gà… Lệ này ở mỗi xóm làng lại có những quy định khác nhau. Ở xã Tân Phú thì có lệ mỗi gia đình đưa cho gia chủ bốn trăm “phá” (tức là hai trăm cây nứa gập đôi). Nói chung, tục giúp nhau trong việc làm nhà của người Mường Thanh Sơn như đóng góp nguyên vật liệu, lương thực, thực phẩm và ngày công thể hiện sự quan tâm chung của cả bản làng, tinh thần tương thân tương ái, đoàn kết cộng đồng sâu sắc. Trong làm nhà của người Mường, ông mo có vai trò tương đối quan trọng. Mở đầu việc dựng nhà, ông mo làm lễ cắm cọc vào nơi làm cầu thang. Sau đó, chủ nhà cày ba luống làm lệ trên nền làm nhà. Ông mo đi sau vảy nước vào những luống cày đó và khấn vía lúa. Người làm nhà chuẩn bị vài cum lúa đã tuốt hết hạt chỉ còn cọng rơm ném ra xa rồi cầm đòn xóc đâm vào cum lúa nâng lên. Mỗi làn nâng đòn xóc lên rồi lại để xuống và hát giang ý nói rằng “lúa đẹp, lúa nặng, lúa bay về nhà để cho no cho đủ…”. Ông mo nâng các cum lúa lên trên tay rước đi vài vòng rồi giang mo “đẻ đất đẻ nước” đoạn nói về rùa dạy dân làm nhà. Tiếp theo ông mo vảy một thứ nước mà đồng bào cho đó là nước phép vào những hố chôn cột để xin thần linh cho gia chủ làm nhà mới. Người Mường kiêng không để mấu của đòn tay quay xuống mặt sàn. Khi bắc đòn tay thì ngọn phải quay về gian cuối, gốc ở gian đầu nơi có cầu thang lên xuống. Gian này được gọi là gian gốc. Sào nhà gác lên thượng lương. Gốc sào cũng phải quay về gian gốc. Tre nứa dùng làm nhà phải không được cụt ngọn, không bị sâu hay bị đốt cháy dở. Gỗ làm nhà đồng bào chọn phải là loại gỗ chắc đảm bảo không mối mọt và thường là gỗ lim xanh, mài lái… Người Mường đặc biệt quan tâm đến những cây gỗ mọc ở núi đá như giống gỗ heo vì giống gỗ này chặt đốn thì mềm nhưng khi chôn xuống đất hàng trăm năm cũng không mục mại. Có nơi đồng bào còn kéo gỗ ra ngâm bùn ngòi, suối khoảng một hai năm mới vớt lên làm.

Những cây gỗ được chọn làm cột sau khi lắp mộng, dựng khung được chôn thẳng xuống những hố đã đào sẵn sâu khoảng 20 – 30 cm. Tục chôn cột nhà ngoài dụng ý cho vững chắc khung nhà khi lợp mái, làm sàn, làm vách còn có ý nghĩa tâm linh, thể hiện cho sự hoà hợp âm dương, một biến thể của tín ngưỡng phồn thực. Cho đến nay đa số đồng bào Mường đã thay đổi tục chôn cột nhà bằng cách nâng cột lên mặt đất và kê lên những phiến đá chống mối mọt. Tuy nhiên cột nhà của người Mường Thanh Sơn không được gia công bào gọt nhiều như cột nhà của người Thái và người Mường ở Hoà Bình. Nếu cột nhà của người Thái Sơn La được xẻ, bào, đẽo cho vuông thành thì cột nhà của người Mường Thanh Sơn chỉ bào lớp vỏ ngoài và để tròn. Đồng bào dùng con xỏ bằng tre, con then bằng gỗ, đinh kèo bằng gỗ… để đóng thay cho đinh sắt. Họ dùng lạt mây, giang hoặc lạt mây, tre bánh tẻ để buộc níu các ngoàm đẽo hoặc cột kèo. Khung nhà sàn của người Mường được dựng hoàn toàn bằng cách ghép mộng, đục đẽo mà thành. Đòn tay (tôn thảy) được đặt dọc mái nhà. Đòn tay cái có miếng tre kẹp chặt đòn tay vào đầu cột cái gọi là cái khoá kèo. Mái nhà lợp bằng lá cọ hoặc bằng cỏ ranh. Những cây nứa ngộ (loại nứa to và dày) vàng óng được lựa chọn kỹ để pha nan kẹp lá (như cái gắp dùng để kẹp cá nướng). Cứ như thế những kẹp lá cọ được đưa lên mái buộc thẳng vào dui mè. Đây là cách lợp mái nhà theo tục truyền thống còn tồn tại phổ biến cho đến ngày nay. Tuy vậy ở một số nơi, người Mường đã thay cách lợp nhà. Lá cọ được đưa lên lợp vào dui mè mà không cần kẹp nữa. Mái nhà sàn khum khum hình mai rùa. Nếu như nhà sàn của người Mường ở Hoà Bình phổ biến là bốn mái (hai mái đầu hồi và hai mái dài). Sàn nhà thấp giống sàn nhà của người Thái thì nhà sàn của người Mường ở Thanh Sơn cũng như nhà sàn Yên Lập chủ yếu là loại nhà sàn hai mái mà không có mái đầu hồi. Mái nhà dốc vảy gần sát sàn. Nhà của người Mường không có sàn thềm bên ngoài như của người Thái. Sàn nhà được làm bằng những cây bương già thẳng pha thành mảnh dát xuống lược bỏ mắt và cạnh sắc ghép liền với nhau, dùng lạt mây buộc chặt kết thành từng mảnh buộc chặt vào khung sàn. Những sàn nhà của nhà Lang trước đây thì thường dùng gỗ tốt như lim, gụ làm sàn nên qua thời gian sử dụng, những tấm ván lên nước bóng láng. Từ mặt đất lên sàn nhà thường cao khoảng 2 đến 2,5 m tuỳ từng nơi ẩm thấp hay cao ráo. Công việc làm nhà tiến hành trong 4 –5 ngày thì kết thúc. Ngày lợp mái, gia chủ tổ cúng tổ tiên, thổ công cai quản nơi mình ở. Lễ cúng gồm xôi nếp và thủ lợn bày ở khoảng đất trống chọn làm sàn. Nhà làm xong, gia đình lại tổ chức cúng tổ tiên, thổ công, ma rừng, ma cây, ma bến nước, ma đồi gò… thông báo rằng gia đình đã có một ngôi nhà mới, mời tổ tiên về chung vui với con cháu phù hộ gia đình may mắn. Nhà của người Mường thường ba đến năm gian. Những gia đình đông con thì nhà lên đến bảy – mười hai gian. Những ngôi nhà như vậy ngày nay còn rất ít.

Nhà dù ít hay nhiều gian đều có một sàn bên trái để bắc cầu thang và máng nước sinh hoạt. Gian đầu tiên từ cầu thang lên gọi là gian gốc. Đây là gian quy tụ mọi tính linh thiêng của ngôi nhà, là nơi xuất phát những tục lệ đối xử hành vi của con người với ngôi nhà. Ở gian gốc có một cây cột to hơn các cây cột khác trong nhà gọi là cột gốc (đồng bào còn gọi cây cột này là cây cột chồ) ở đầu góc nhà gần cầu thang. Cây cột gốc được đồng bào trân trọng đặt khám (bàn thờ) thờ tổ tiên. Mọi người kể cả chủ hay khách đến nhà chơi đều không được bôi nhọ, dựa lưng, gác chân, buộc đồ vật hay treo quần áo vào cột này. Phần cột dưới sàn cũng không được buộc trâu bò hay dựng, treo công cụ lao động. Người Mường quan niệm nếu phạm phải những điều cấm trên thì bị coi là xúc phạm đến gia đình, tổ tiên và thần linh. Gian nhà gốc chỉ dành riêng cho nam giới. Phụ nữ trong nhà không được ngồi nghỉ hoặc làm việc ở đây. Trong các ngày trọng đại như hôn lễ, ma chay thì chỉ nam giới có vai vế trong dòng họ được ngồi ăn uống. Tại gian nhà linh thiêng này có một cửa sổ làm sát đến sàn nhà gọi là cửa sổ “voóng” linh thiêng, không ai được đưa vật gì hay chui qua. Cửa sổ voóng chỉ dành để đưa quan tài ra ngoài khi gia chủ có tang ma. Đối diện với cột chỗ ở gian gốc có một cột nhà tương đối quan trọng. Ở chân cột này, người Mường để vào cum lúa đã tuốt hết hạt. Đầu cột đội một cái giỏ thủng biểu hiện cho âm tính (đồng bào gọi là nường). Bên cạnh đó, người Mường treo một đoạn tre tước xơ một đầu cho bông lên biểu hiện cho dương tính (gọi là nõ). Điều này thể hiện đời sống tâm linh, nói lên sự hỗn hợp, cân bằng âm dương, sự ổn định và thuận hoà của cả gia đình. Gian thứ hai của ngôi nhà (gian kế theo gian gốc) dành cho nam giới ngủ nghỉ. Gian giữa thường là gian để thóc và làm bếp. Lúa gặt ở ruộng nương về phơi khô khi chuyển lên nhà được để ở đây. Họ xếp lúa vào một cái quây như cái bồ thủng đáy đan bằng nứa hoặc giang để gần bếp. Bếp của người Mường là rất công phu. Khuôn bếp được làm bằng loại gỗ đặc biệt cứng, có đường viền xung quanh, đáy lót bằng bẹ chuối rồi dải bùn lên trên. Khi chuyển bếp mới, người Mường tìm một số loại cỏ thơm như cỏ mật phơi khô để vào bếp đốt lấy tro rồi mới bắc kiềng nấu nướng. Bếp thường đặt trên trục nhà nơi nóc dọi xuống. Có nhà bếp đặt gần cửa sổ để thông gió, tránh khói và hoả hoạn. Tuy vậy, việc đặt bếp ở cửa sổ ít được ưa chuộng hơn vì đồng bào quan niệm nếu đặt bếp gần cửa sổ thì hơi ẩm từ bếp toả ra ngôi nhà không đều. Nhà người Mường thường có hai bếp chuyên dụng. Một bếp để nấu nướng thức ăn và phụ nữ, trẻ em trong gia đình ngồi sưởi.

Một bếp nhỏ hơn đặt ở gian gốc dùng để cho đàn ông trong gia đình ngồi sưởi vào mùa đông và đun nước uống hàng ngày hoặc tiếp khách. Bếp này người phụ nữ trong gia đình ít khi được ngồi hoặc sử dụng trừ phụ nữ cao tuổi như bà, cụ hay con gái út được yêu quý nhất. Gian cuối cùng là nơi dành cho phụ nữ sinh hoạt có chạn bát, để đồ dùng gia đình, nơi sửa soạn cơm nước. Gian này được ngăn với các gian khác trong nhà bởi một tấm liếp. Đây cũng là nơi người phụ nữ thay quần áo và ngủ nghỉ. Đầu hồi nhà, đồng bào để một cái cối đuống và một cối tròn. Cối đuống không chỉ dùng để giã thóc gạo mà còn là phương tiện để gia đình báo nhà có việc lớn như đám cưới mà tang ma. Bên cạnh đó, cối đuống còn là một nhạc cụ sử dụng để gõ những bản nhạc vui trong ngày lễ tết, hội hè với những bản đuống rộn ràng âm vang, đồng bào gọi là “đâm đuống” hay “châm đuống”. Dưới sàn nhà, đồng bào nuôi gà, trâu hoặc để cất các công cụ sản xuất như cày, cuốc, liềm, nong, nia… Nhà của người Mường thường chỉ có một cầu thang. Song những ngôi nhà dài từ 7- 12 gian thì buộc đồng bào phải làm hai cầu thanh ở hai đầu nhà. Những nhà có hai cầu thang như thế này thực là hiếm vì người Mường quan niệm đó là sự xui xẻo, kiêng kị, của nả sẽ không giữ được trong nhà “vào đầu này ra đầu kia”.

Trang phục: Có đặc trưng riêng về tạo hình và phong cách thẩm mỹ trên trang phục.

+ Trang phục nam
Nam mặc áo cánh xẻ ngực, cổ tròn, cúc sừng vai, hai túi dưới hoặc thêm túi trên ngực trái. Đây là loại áo cánh ngắn phủ kín mông. Đầu cắt tóc ngắn hoặc quấn khăn trắng. Quần lá tọa ống rộng dùng khăn thắt giữa bụng còn gọi là "khăn quần". Xưa có tục để tóc dài búi tóc. Trong lễ hội dùng áo lụa tím hoặc tơ vàng, khăn màu tím than, ngoài khoác đôi áo chúng đen dài tới gối, cái cúc nách và sườn phải.

+ Trang phục nữ
Aáo mặc thường ngày có tên là áo pắn (áo ngắn). Đây là loại áo cánh ngắn, xẻ ngực, thân ngắn hơn so với áo cánh người Kinh, ống tay dài, áo màu nâu hoặc trắng (về sau có thêm các màu khác không phải loại vải cổ truyền). Bên trong là loại áo báng, cùng với đầu váy nổi lên giữa hai vạt áo ngắn. Đầu thường đội khăn trắng, xanh với phong cách không cầu kỳ như một số tộc người khác. Váy là loại váy kín màu đen. Toàn bộ phận được trang trí là đầu váy và cạp váy, khi mặc mảng hoa văn nổi lên giữa trung tâm cơ thể. Đây là một phong cách trang trí và thể hiện ít gặp ở các tộc khác trong nhóm ngôn ngữ và khu vực láng giềng (Trừ nhóm Thái Mai Châu, Hòa Bình do ảnh hưởng văn hóa Mường mà mặc thường ngày tương tự như họ) Nhóm Mường Thanh Hóa có loại áo ngắn chui đầu, gấu lượn, khi mặc cho vào trong cạp váy và cao lên đến ngực. Phần trang trí hoa văn trên cạp váy gồm các bộ phận: rang trên, rang dưới, và cao. Trong dịp lễ, Tết họ mang chiếc áo dài xẻ ngực thường không cài khoác ngoài bộ trang phục thường nhật vừa mang tính trang trọng vừa phô được hoa văn cạp váy kín đáo bên trong. Nhóm mặc áo cánh ngắn xẻ ngực thường mang theo chiếc yếm bên trong. Về cơ bản giống yếm của phụ nữ Kinh nhưng ngắn hơn.

Nhạc cụ của người Mường:

Cồng vừa là tài sản có giá trị, vừa là loại nhạc cụ quan trọng trong đời sống của người Mường…

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d61 9604efc0.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2770)

Nhạc cụ dân gian của người Mường gồm có: sáo ngang, tiêu nhỏ, kèn, đàn nhị, chuông, trống đồng, trống mặt da và chiêng. Người Mường còn tạo âm thanh bằng máng gỗ vò lúa (đánh đuống) hay những đoạn tre (gõ sạp).

Dân tộc Mường thường dùng nhạc cụ đơn tấu đệm cho hát và múa. Đặc biệt có ba hình thức tổ chức dàn nhạc: dàn nhị - sáo ngang gồm sáo ngang, tiêu nhỏ, kèn, nhị, sử dụng trong lễ tết và các dịp vui; đàn nhị - sáo ngang - trống đồng chỉ sử dụng trong tang lễ; dàn chiêng xéc bùa gồm 12 chiếc, do 12 cô điều khiển trong lễ Xéc Pùa tổ chức vào mùa xuân. Biên chế dàn chiêng xéc bùa thường gặp gồm 2 chiêng chót (âm cao), 6 chiêng boòng beng (âm trung), 4 chiêng dàn (âm trầm). Các chiêng cao và trung đi giai điệu, chiêng trầm đi trùm âm. Ngoài ra người Mường còn sử dụng những loại chiêng với số lượng lớn, nhất là chiêng dàn để hoà âm gọi khộ. Dùi chiêng làm bằng gỗ ổi hoặc gỗ sến, đầu để gõ được bọc vải và đan sợ gai bao bên ngoài.

Cồng là loại nhạc cụ được đúc bằng đồng thau hoặc đồng đỏ. Mỗi bộ cồng đầy đủ gồm 12 chiếc, từng chiếc có tên gọi riêng. Trong một bộ có ba loại cồng với những kích cỡ và âm thanh cao thấp khác nhau: cồng lẻ (từ chiếc thứ nhất đến chiếc thứ 4), đường kính rộng 20 – 30 cm, âm cao; cồng bồng (từ chiếc thứ 5 đến chiếc thứ 8), đường kính rộng 40 – 50 cm, âm trung; cồng dàm (từ chiếc thứ 9 đến chiếc thứ 12), đường kính rộng 60 – 90 cm, thậm chí tới 1m, âm trầm.

Cồng vừa là tài sản có giá trị, vừa là loại nhạc cụ quan trọng trong đời sống của người Mường. Cồng được sử dụng phổ biến để diễn tấu khi hát sắc bùa đón năm mới, hay trong lễ cưới, ma chay… Người chơi thường là nữ, nhưng cũng có khi có cả nam và nữ, mỗi người một chiếc tay này xách quai đeo cồng, tay kia cầm dùi gỗ có quấn vải một đầu, gõ vào núm cồng theo nhịp điệu và tiết tấu của bài. Có hai hình thức biểu diễn: dàn ngang đứng đánh tại chỗ hoặc vừa đánh cồng vừa đi vòng tròn. Xưa kia, khi có việc hệ trọng, các gia đình quý tộc Mường thường sử dụng vài bộ cồng đánh lên cùng một lúc.

tuyemthoi
22-09-2008, 09:14 AM
13 - Dân tộc Bố Y

Dân tộc Bố Y còn có tên gọi khác là Chủng Chá, Trọng Gia, Tu Dí, Tu Dìn, bao gồm cả nhóm Pu Nà. Dân số khoảng 1.500 người, cư trú ở tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang.

Tiếng nói của người Bố Y thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái. Tôn giáo chính của đồng bào là thờ tổ tiên. Trên bàn thờ có ba bát hương: bát để thờ trời, một bên thờ táo công và một bên thờ tổ tiên.

Người Bố Y sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy. Đồng bào nuôi nhiều gia súc gia cầm, đặc biệt học có nhiều kinh nghiệm nuôi cá. Hàng năm, khi mùa mưa đến, đồng bào ra sông tìm vớt trứng cá về ơưm, khi cá lớn, họ thả vào ao và ruộng nước.

Trước đây, người Bố Y thường làm mộc, rèn, gốm, đục đá, chạm bạc. Phụ nữ biết trồng bông, kéo sợi, dệt vải, may thêu quần áo, túi, khăn. Phụ nữ Bố Y mặc váy xoè, áo năm thân và có xiêm che ngực. Gần đây, một số phụ nữ mặc giống người Nùng, một số khác mặc giống người Hán. Phụ nữ thích dùng đồ trang sức bằng bạc, thường vấn tóc ngược lên đỉnh đầu. Khăn đội đầu của phụ nữ là một tấm vải dài khoảng 2 mét rộng 0,3 mét, màu chàm, khi chít thì vận thành hình chữ "nhân" trước trán.

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d6f fcc4e79e.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2776)

Chiếc bừa gỗ-công cụ làm đất của người Bố Y

Nhà ở của người Bố Y thường là nền đất, có một sàn gác trên lưng quá giang - là nơi để lương thực và là chỗ ngủ của những người con trai chưa vợ. Mỗi dòng họ có một hệ thống tên đệm khoảng 5 đến 9 chữ. Mỗi chữ đệm dành cho một thế hệ và chỉ rõ vai vế của người mang dòng chữ đó trong quan hệ họ hàng.

Lễ cưới của người Bố Y khá phức tạp và tốn kém. Trong lễ đón dâu thường nhà trai chỉ có khoảng 8 đến 10 người, trong đó phải có 1 đến 2 đôi son trẻ, 2 đôi đã có vợ có chồng. Nét độc đáo của người Bố Y là chàng rể không đi đón dâu, cô em gái của chàng rể dắt con ngựa hồng đẹp mã để chị dâu cưỡi lúc về nhà chồng. Nhà gái cũng cử ra một đoàn, thành phần như nhà trai. Khi về nhà chồng, cô dâu mang theo một chiếc kéo và một con gà mái nhỏ, đi đến giữa đường thì thả gà vào rừng.

Xưa kia người phụ nữ Bố Y có tục đẻ ngồi, nhau của đứa trẻ chôn dưới gầm giường của mẹ. Khi bố mẹ chết, con cái phải kiêng kỵ nghiêm ngặt trong 90 ngày đối với tang mẹ, 120 ngày đối với tang cha.Vốn văn nghệ dân gian như truyện cổ, tục ngữ, dân ca khá phong phú.

Trang phục truyền thống của người Bố Y

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d70 064bf386.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2777)

Trang phục của phụ nữ người Bố Y

Dân tộc Bố Y ở Việt Nam là một trong những dân tộc có số dân ít nhất trong nhóm Tày Thái. Bố Y chia làm hai nhóm có tên gọi chung: nhóm ở Quảng Bạ (Hà Giang) có tên gọi là Bố Y, nhóm cư trú ở Lào Cai mang tên là Tu Di.

Trang phục nam: Nam giới thường mặc áo cổ viền, loại áo cánh ngắn, tứ thân; quần lá tọa màu chàm bằng vải tự dệt.

Trang phục phụ nữ dân tộc Bố Y trong khoảng một thế kỷ gần đây có nhiều biến đổi về kiểu dáng, chất liệu, cách mặc… Bộ y phục cổ truyền của phụ nữ Bố Y ở Tam Đường, Phong Thổ, Lai Châu gồm: khăn đội đầu, áo trong, áo ngoài, váy to, váy nhỏ, tạp dề.

Khăn đội đầu (ba can) bằng vải nhuộm chàm, là loại khăn dài 300cm, chiều rộng 35cm. Hai đầu khăn được khâu vắt mép bằng chỉ màu ghi, cạnh mép khăn dùng chỉ màu khâu thưa để đường chỉ nổi rõ có tính chất trang trí cho khăn. Khi dùng, gập đôi khăn theo chiều dọc rồi quấn xung quanh đầu, đuôi khăn ngoài cũng có thể giắt hoặc buông.

Áo trong (pủ đy) là loại áo kiểu tứ thân mở ngực, có một chiếc cúc đồng cài giáp cổ. Hai vạt áo trước có hai túi nhỏ cân xứng nhau để đựng tiền và đồ. Cổ áo liền với nẹp ngực được đáp bằng vải chàm xanh, cổ tay áo đáp khoanh vải màu xanh rộng 10 cm, hai đầu khoanh vải xanh viền một đường vải trắng 1 cm. Áo trong (pủ đý) được coi là loại áo lâu đời nhất trong bộ y phục cổ truyền của phụ nữ Bố Y. Hiện nay áo “pủ đý” không sử dụng mà cất kỹ trong hòm, khi chủ nhân quá cố mặc sang thế giới bên kia.

Áo ngoài (pủ pấp) bằng vải thô nhuộm chàm dài 60 cm, rộng 55 cm (tùy người cụ thể có kích thước khác nhau). Áo may kiểu tứ thân không có cúc cài, chỉ có một đôi dây vải, một chiếc đính phía dưới vạt áo trái, một chiếc đính nơi xẻ tà nách bên phải, khi mặc áo chúng được buộc lại với nhau.

Cổ áo (vừa pủ) liền với nẹp ngực, được khâu táp hai miếng vải màu xanh nhạt, nẹp áo trước ngực bằng vải đỏ. Trên nẹp vải đỏ thêu hoa văn, đồng bào gọi là con rồng (lùng). Nẹp áo trước ngực bằng vải xanh lơ trên thêu hoa văn hình răng cưa (vùa lùng). Tay áo liền với thân, ống tay rộng, có nẹp vải trắng bên trong, bên ngoài dùng vải màu khâu xa mũi tạo thành ba chấm liên tiếp để trang trí.

Váy to (vấn lậu) hay còn gọi là váy dài, váy bằng vải thô nhuộm chàm dài 85 cm, cạp váy rộng 35 cm, là loại váy mở khép mí, gồm ba phần cạp váy, thân váy, gấu váy. Cạp váy (roi vấn) bằng vải thô màu trắng, hai cạnh cạp có đính hai dây vải để buộc. Thân váy được gấp nếp mới đính vào cạp váy có độ xòe khá lớn. Gấu váy (pấn vấn) là mảnh vải được dệt bằng chỉ màu xanh, đỏ, tím, ghi, tạo thành những đường kẻ nhỏ khâu ghép vào thân váy, gấu váy cũng được gấp nếp như thân váy. Váy to dùng che trước bụng, loại váy này trước kia dùng trong các dịp lễ tết, hội hè, cưới xin. Hiện nay không dùng nữa, nó được cất kỹ để mặc vào lúc quá cố.

Váy nhỏ (vấn biên) bằng vải thô nhuộm chàm dài khoảng 50 cm, cạp váy rộng 30cm, gồm ba phần cạp váy, thân váy, gấu váy. Cạp váy (roi vấn) bằng vải thô nhuộm chàm màu xanh, hai cạnh cạp váy đính hai dây vải để buộc khi mặc. Thân váy (coóng vấn) được cấu tạo khác váy to. Phía giáp cạnh váy là một miếng vải chàm gấp nếp nhỏ sít vào nhau theo chiều dài của váy. Tiếp đến là mảnh vải sợi màu đỏ đồng bào gọi là "tục vấn", nằm giữa váy và cũng được gấp nếp theo chiều dài của váy. Dưới "tục vấn" là dải vải thô nhuộm chàm cũng được gấp nếp theo chiều dài của váy. Gấu váy (pấp vấn) liền với thân váy được khâu viền ở phía trong. Cách mặc váy truyền thống của phụ nữ Bố Y: trước hết đặt váy to vào giữa bụng và buộc dây sau lưng, sau đó đặt váy nhỏ vào giữa lưng và buộc dây trước bụng. Bộ váy truyền thống của phụ nữ Bố Y thực chất là hai mảnh vải xếp nếp khép lại, khi mặc tạo kẽ hở (váy hở) ở hai bên hông để đi lại dễ dàng.

Tạp dề (vẩy dao) bằng vải thô nhuộm chàm dài khoảng 115cm, rộng 80cm. Tạp dề được đeo ngoài áo và váy trong những dịp lễ tết, hội hè, cưới xin gồm hai phần: yếm che và dây đeo. Yếm che bằng vải chàm, giữa yếm có thêu họa tiết hoa văn hình con cua cách điệu. Dây đeo bằng vải chàm được đính hai bên cạnh nhỏ của tạp dề. Khi dùng buộc vòng qua cổ. Dây buộc sau lưng được đính trên hai cạnh to của tạp dề, khi dùng buộc thắt sau lưng.

tuyemthoi
22-09-2008, 03:13 PM
14 - Dân tộc Tày

Tên dân tộc: Tày (Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao, Pa Dí).

Dân số: 1.477.514 người (năm 1999).

Ðịa bàn cư trú: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Bắc Giang.

Phong tục tập quán:

Thờ cúng tổ tiên. Nơi thờ tổ tiên chiếm vị trí tôn nghiêm nhất trong nhà. Chiếc giường trước bàn thờ để không, khách lạ không được ngồi, nằm trên đó. Người mới sinh không được đến chỗ thờ tổ tiên.Trong gia đình thường quý con trai hơn và có quy định rõ ràng giữa các thành viên. Bản thường ở chân núi hay ven suối. Tên bản gọi theo tên đồi núi, đồng ruộng, khúc sông. Mỗi bản có từ 15 đến 20 nóc nhà.

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d75 6ae74329.gif (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2795)

Bản Pắc Ngòi (Bắc Kạn) có hơn 40 nhà sàn của người dân tộc Tày.

Ngôn ngữ: Thuộc hệ ngôn ngữ Tày - Thái.

Văn hóa:

Có một nền văn nghệ cổ truyền phong phú, đủ các thể loại thơ, ca, múa nhạc... phổ biến nhất là hát lượn, hát đám cưới, ru con. Người Tày mến khách, cởi mở, rất trọng những người cùng tuổi.

Trang phục: Mặc quần áo vải bông nhuộm chàm, áo nữ dài đến bắp chân, ống tay hẹp, xẻ nách ở bên phải, cài 5 khuy.

Kinh tế: Nông nghiệp cổ truyền phát triển với đủ loại cây trồng như lúa, ngô, khoai.

-------------------------------------------------------

Nghề dệt thổ cẩm của dân tộc Tày ở Cao Bằng

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d75 434b926f.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2793)

Nghề dệt thổ cẩm tại Cao Bằng không rõ ra đời từ khi nào. Chỉ biết rằng, những tấm vải thổ cẩm của dân tộc Tày ở Cao Bằng từ lâu đã nổi tiếng với những hoa văn đẹp mắt, sặc sỡ, mang đậm sắc thái dân tộc. Nhiều vật dụng trong các gia đình người Tày được làm từ thổ cẩm, như mặt chăn, mặt địu, trải gối, trải bàn, khăn trải giường...

Nguyên liệu chính để dệt thổ cẩm là sợi bông nhuộm chàm và tơ tằm nhuộm màu. Tuy nhiên, do giá tơ tằm đắt nên ngày nay người dệt thổ cẩm dùng len có chi phí thấp hơn thay thế. Quy trình dệt thổ cẩm hoàn toàn thủ công, được thực hiện trên khung cửi tự tạo với một số bộ phận như các tấm go, khổ đặt gia công cơ khí. Dệt thổ cẩm chủ yếu là do người phụ nữ làm bởi công việc này đòi hỏi sự khéo léo của đôi bàn tay và lòng kiên nhẫn.

Ở Cao Bằng, nghề dệt thổ cẩm phát triển mạnh ở xã Đào Ngạn, Phù Ngọc (huyện Hà Quảng) và khu vực thị trấn Nước Hai (huyện Hoà An). Các sản phẩm thổ cẩm hiện nay cũng khá phong phú, đường nét, màu sắc đẹp hơn và là món quà lưu niệm ý nghĩa mà các du khách thường chọn mua để tặng người thân và bạn bè khi có dịp đến với Cao Bằng.

-------------------------------------------------------

Ðón dâu bằng thơ - nét đẹp trong văn hóa Tày

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d75 53ae7bf5.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2794)

Thiếu nữ Tày

Dân tộc Tày có khoảng 1,2 triệu người sống rải rác ở một số tỉnh miền núi phía bắc đang lưu giữ một nền văn hóa độc đáo. Ðón dâu bằng thơ là một phong tục thể hiện nét đẹp của nền văn hóa đó. Trong đám cưới, các thủ tục, nghi lễ đều có những bài ca. Quan lang là người hát các bài ca, đồng thời cũng là người diễn xướng.

Cũng như các dân tộc khác trong cộng động các dân tộc Việt Nam, dân tộc Tày rất coi trọng việc hôn lễ vì nó thể hiện ý thức trách nhiệm với tổ tiên giống nòi, là hình thức củng cố và phát triển xã hội. Có thể nói từ trước tới nay đám cưới người Tày không chỉ là công việc của mỗi nhà mà còn là công việc của cả làng bản. Vì thế, mỗi khi có đám cưới, cả bản lại rộn lên như có hội. Ðiều độc đáo trong đám cưới người Tày là đón dâu bằng thơ - hát.

Dân ca đám cưới còn được gọi là tiếng hát đón dâu. Ở CÁC tộc khác như Mường, Thái, Dao, Cơ Tu... cũng có dân ca đám cưới, song mỗi tộc lại có hình thức diễn xướng khác nhau. Dân ca đám cưới mang tính loại hình, tính đặc thù, được hình thành do chức năng thực hành sinh hoạt, thực hành nghi lễ trong đời sống nhân dân.

Người Tày gọi dân ca đám cưới bằng nhiều tên khác nhau, có nơi gọi "lượn lẩu" (lượn rượu), có nơi gọi "lượn pú ta" (lượn Quan lang). Cách gọi phổ biến và quen thuộc là lượn Quan lang. Cách gọi tuy có khác nhau nhưng tựu trung đó là những bài hát dành riêng cho đám cưới, chỉ cất lên trong đám cưới, khác những bài ca xuất hiện ở chợ phiên, trên những con đường vào bản, nơi nương rẫy hoặc trong lễ hội. Những bài hát đám cưới Tày mang chức năng trao đổi tình cảm, lại diễn xướng theo nghi lễ truyền thống nên nó cũng không nằm ngoài nhu cầu về tinh thần, trí tuệ, thẩm mỹ của người Tày. Quan niệm của người Tày xưa về "lời nói đẹp" ấy là thơ ca được dùng trong lúc trang trọng hoặc khi thổ lộ tâm tình. Trong lễ cưới không chỉ trang trọng mà còn vui vẻ, cũng là dịp thử tài ứng xử thơ ca của hai họ nhà trai và nhà gái. Những cuộc so tài thử trí này vừa mang tính sinh hoạt, vừa là hình thức nghi lễ được diễn ra theo trình tự thời gian từ khi đoàn nhà trai đặt chân tới nhà gái đến lúc kết thúc xin phép đón dâu về.

Lễ đón dâu của người Tày xưa bắt đầu từ chiều hôm trước, ở qua đêm đến ngày hôm sau. Chúng tôi tạm chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn một là giai đoạn thử thách (kể từ khi họ nhà trai đến cổng nhà gái phải vượt qua các "trạm gác" để vào được NHÀ). GIAI ÐOẠN HAI LÀ NHỮNG THỦ TỤC ÐÓN DÂU. ỨNG với mỗi sự thử thách và các nghi thức là những bài ca. Các bài ca có thể sắp xếp theo trình tự sau:

Giai đoạn thử thách gồm:

- Những bài ca mở cổng.

- Những bài ca chăng dây.

- Những bài ca rửa chân.

- Những bài ca lên cầu thang.

- Những bài ca mở cửa chính.

- Những bài ca cất chổi.

- Những bài ca rải chiếu.

Giai đoạn thủ tục gồm:

- Những bài ca mời nước.

- Những bài ca mời rượu.

- Những bài ca mời cơm.

- Những bài ca bái tổ.

- Những bài ca nạp gánh.

- Những bài ca đáp ơn cha mẹ.

- Những bài ca nhận rể.

- Những bài ca xin đón dâu.

- Những bài ca lễ bố mẹ chồng.

- Những bài ca mừng rương, hòm, màn.

- Những bài ca mừng thông gia bằng hữu.

- Những bài ca mừng phù dâu.

- Những bài ca chia tay, nhắn gửi.

Nội dung, dung lượng của bài ca tùy thuộc vào các đề tài, tình huống cụ thể và tài ứng đối của người đại diện nhà trai và nhà gái. Khi tiếng hát cất lên cũng là lúc mọi thành viên bị cuốn hút vào cuộc, tạo nên không khí văn nghệ thân ái, đoàn kết trong cộng động làng bản. Sau đây là một số tình huống của tiến trình diễn xướng qua hai giai đoạn nêu trên.

Thử thách đầu tiên của nhà trai là khi đến cổng bị nhà gái đóng không cho vào, lại còn vờ hỏi.

Xin trình đến khách lạ khác thường
Ði đâu mà lạc đường qua đây
Gái trai đều thanh tân thay thảy
Người người mặt xinh đẹp trắng ngần
Tôi chặn đường giữ phép nhà quan
Người ngay được vào làng vào bản
Người gian là phải lìa chốn đây
Khách này là người ngay người giở
Tôi xin hỏi cho rõ ngọn ngành.

Muốn nhà gái mở cổng cho vào, Quan lang phải cất lên tiếng hát:

Ngày này ngày đại lễ đón dâu
Chúng tôi đưa rể về lễ tổ
Lễ vật có nhiều gánh nhiều gồng
Con rể gọi đắp ơn cha mẹ
Ðược ơn các nàng mở cửa cho.

Cổng mở nhưng lối vào bị chắn bởi một dải lụa ngũ sắc. Quan lang lại hát:

Xin trình đến các nàng nhà sang
Ði đến đây đường trường mệt mỏi
Thấy có dải lụa đào chắn ngang
Thấy có dải lụa loan ngũ sắc
Cấm vào nhà những khách không quen.

Tiếng hát vừa dứt, dải lụa được cất đi mở đường cho nhà trai đến cầu thang nhà sàn. Theo lệ thường chân cầu thang có máng nước rửa chân nhưng hôm nay không có. Mấy cô gái bưng những khay rượu đến mời khách rửa chân. Bài hát Lẩu dào kha (rượu rửa chân) được ra đời, nói lên điều hay lẽ phải, giá trị quý báu của những giọt rượu, không thể lấy rượu thay nước rửa chân, làm như vậy là trái với lẽ thường, coi thường công lao động và vật phẩm quý là lúa gạo:

...
Lại có rượu rửa chân chúng tôi
Nghĩ mà thất lễ với trời đất.

Lên được cầu thang thì lại vướng phải những đoạn củi cháy dở, những chiếc chổi, con dao, con mèo bị nhốt... đặt ngang đường. Nếu bước qua sẽ bị nhà gái chê cười là bất lịch sự. Quan lang lại trổ tài thơ thuyết phục để nhà gái dọn lối vào. Thế nhưng cánh cửa nhà chính vẫn đóng. Bài ca Xo khay tu (xin mở cửa) được Quan lang cất lên trình bày nhiệm vụ quan trọng của nhà trai đến nhà gái đón dâu, đề nghị nhà gái cho vào nhà. Vượt qua ngần nấy "thử thách" của nhà gái, nhà trai những tưởng xong chuyện, được ngồi xuống giường nghỉ ngơi đàm đạo. Nào ngờ giường không có chiếu trong khi đó mấy cô chủ lịch sự mời chào. Quan lang lại hát bài Piái phục (trải chiếu) nhà gái mới chịu mang chiếu đến trải vào giường nhưng cố tình trải ngược chiếu. Cả đoàn đón dâu vẫn kiên trì đứng chờ. Quan lang hát bài Piển phục (trải lại chiếu) ý nói mọi vật tồn tại trong tự nhiên và trong cuộc sống đều tuân theo quy luật phát triển tự nhiên của nó, lẽ nào nhà gái làm trái quy luật ấy.

Chiếu được trải lại, nhà trai mới ngồi yên vị trên chiếc giường dành cho khách quý. Ðến đây giai đoạn thử thách coi như kết thúc. Bước sang giai đoạn hai, nhà trai tiến hành các thủ tục lễ nghi truyền thống, gắn với nó là những khúc ca. Thay mặt nhà trai, Quan lang thưa với nhà gái qua bài Dạ cốc họ (thưa họ hàng). Nội dung ca ngợi công sinh thành dưỡng dục của bố mẹ cô dâu và họ hàng. Nhà trai rất biết ơn công lao đó. Tính từ giờ phút này hai bên chính thức gặp gỡ kết tình thông gia, nạp đồ cưới, cho chú rể bái tổ, xin đón dâu về.

Nhà gái mang khay nước chè đến mời. Trước khi uống Quan lang hát bài Kin nậm chè (uống nước chè) cảm ơn sự đón tiếp chu đáo của họ nhà gái. Sau đó Quan lang xin phép cho chú rể thắp hương lễ tổ, ra mắt nhận ông bà cha mẹ, họ hàng:

Mười giờ kén được giờ này tốt
Trăm giờ kén được giờ này lành
Giờ này được trên trời phù hộ
Giờ này có nhiều phúc đến nhà
Giờ đẹp con rể ra bái tổ.

Cơm rượu đã được bày sẵn, cả hai họ vui vẻ ngồi dự. Những bài Thơ lẩu (thơ rượu) được cất lên. Lúc này không chỉ có Quan lang hát mà mọi người đến tham dự đám cưới cùng tham gia hát đối đáp. Có lẽ lý do người Tày gọi dân ca đám cưới là "Thơ lẩu" cũng xuất phát từ đây.

Không khí hoan hỉ của đám cưới kéo dài gần như thâu đêm suốt sáng. Ngày hôm sau ông Quan lang lại tiếp tục thực hiện nghi thức còn lại. Bài ca Xo lùa mừa (xin đón dâu) kết thúc các thủ tục trước khi chú rể chào mọi người đưa cô dâu về nhà:

Ðón dâu về họ hàng xem mặt
Ðón dâu về kế thế phụng thờ.

Qua diễn trình diễn xướng dân ca đám cưới Tày, ta thấy mọi sự dẫn dắt giao tiếp giữa hai họ đều được thực hiện bằng thơ ca, do Quan lang là người cầm trịch. Ðây là điểm độc đáo trong đám cưới của dân tộc Tày, thể hiện hình thức tổ chức đã có nền nếp quy củ, tuân theo các trật tự mang tính truyền thống. Những lời đối đáp ở giai đoạn một làm tăng thêm không khí vui nhộn của lễ cưới, thu hút mọi người tham gia vào cuộc, đồng thời kích thích khả năng ứng tác của các nghệ nhân dân gian, góp phần làm phong phú thêm vốn dân ca đám cưới của dân tộc.

Hình thức tạo nhiều tình huống hoặc phạt Quan lang bằng những chén rượu mỗi khi lúng túng, bí, không đáp được cũng nhằm mục đích phát huy khả năng sáng tác thơ ca của nghệ nhân. Cùng một đề tài: Xin mở cửa, chúng tôi sưu tầm có tới hơn mười bài ca, lời lẽ khác nhau. Ðặc điểm chung các bài này đều hướng tới "thấu tình đạt lý".

Từ sự dí dỏm, tinh nghịch, gây cười của những bài ca ở giai đoạn đầu đã chuyển sang tính nghiêm túc, trang trọng của những bài ca mang tính nghi lễ ở giai đoạn sau, tạo nên sự hài hòa trong lễ cưới. Bài ca có tính thuyết lý thể hiện bằng giọng hát Quan lang được đặt trong không khí trang trọng của hôn lễ đã tăng tính thuyết phục thêm bội phần. Lệ Srằm khấu (ướt khô) là tiếng hát nên thơ, cảm động về sự báo đáp công ơn cha mẹ vất vả nuôi con khôn lớn, đã thấm sâu vào trong ký ức, trong lòng người nghe.

Mặc dù diễn xướng những bài ca đám cưới có kéo dài nhưng nó được sắp xếp theo trình tự lô gích, đặt trong không gian rộng có cảnh huống gắn chặt với bài nghi thức hôn lễ nên có sức thuyết phục, tập trung vào vai trò của người diễn xướng là Quan lang.

Nhà nghiên cứu văn học dân gian Vi Hồng nhận xét xác đáng: Muốn hiểu thơ Quan lang trước hết phải hiểu phong tục Quan lang. Những bài ca đám cưới Tày và môi trường diễn xướng độc đáo của nó thực sự là một hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần đẹp đẽ của đồng bào Tày.

tuyemthoi
22-09-2008, 04:49 PM
15 - Dân tộc Tà Ôi

Dân tộc Tà Ôi là một dân tộc thiểu số tại Việt Nam, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer. Dân tộc Tà Ôi còn được có nhiều tên gọi khác nhau như Tôi Ôi, Pa Cô, Ba Hi hay Pa Hi, có số dân khoảng 26.000 người sinh sống tập trung ở khu vực miền núi phía Tây miền trung Việt nam, trong địa phận các huyện A Lưới thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế và hai huyện Hướng Hóa và DaKrong thuộc tỉnh Quảng Trị. Người Tà Ôi trước đây làm rẫy là chính, gần đây ở một số nơi đồng bào làm ruộng nước, có vườn cây ăn quả, đào ao thả cá.

Tổ chức cộng đồng

Làng người Tà Ôi theo truyền thống thường có một ngôi nhà công cộng kiểu nhà rông dựng giữa làng: có vùng lại chỉ có ngôi "nhà ma" dựng ngoài rìa khu gia cư để hội tụ dân làng khi có lễ hội và sinh hoạt chung.

Từng dòng họ người Tà Ôi có riêng tên gọi, có kiêng kỵ nhất định, có truyền thuyết lý giải về tên gọi và điều kiêng cữ ấy. Con cái đều lấy họ theo cha, chỉ con trai được thừa hưởng gia tài. Trưởng họ đóng vai trò quan trọng trong cả việc làng.

Hôn nhân gia đình

Thanh niên nam nữ Tà Ôi tự do tìm hiểu nhau qua tục đi "sim" tình tự nơi chòi rẫy. Họ trao vật làm tin cho nhau, rồi nhà trai nhờ người mai mối. Sau lễ cưới, cô dâu trở thành người nhà chồng. Việc kết hôn giữa con trai cô với con gái cậu được khuyến khích, nhưng nếu trai họ A đã lấy vợ ở họ B, thì trai họ B không được làm rể họ A mà phải tìm vợ ở họ C.

Tục lệ ma chay

Người Tà Ôi có tục người chết được vài năm, dòng họ sẽ tổ chức cải táng, lúc này mới làm nhà mồ đẹp, trang trí công phu và dựng tượng quanh bờ rào mồ.

Văn hóa

Người Tà Ôi có nhiều tục ngữ, ca dao, câu đố, có nhiều truyện cổ kể các chủ đề phong phú: nguồn gốc tộc người, nguồn gốc dòng họ, cuộc đấu tranh giữa kẻ giàu với người nghào, giữa cái thiện với cái ác, tình yêu chung thủy v.v... Dân ca có các điệu Ka-lơi, Ba-boih, Rơin và đặc biệt là điệu cha chấp trữ tình. Chiêng, cồng, đàn, sáo, kèn, trống, khèn là những loại nhạc cụ thường gặp ở vùng đồng bào Tà Ôi.

Nhà cửa

Nhà ở của người Ta Ôi là nhà sàn dài phổ biến tại nhiều vùng Trường Sơn - Tây Nguyên. Nhìn bề ngoài, nhà Ta Ôi kể cả nhà sàn và nhà đất đều có nó hình mai rùa và đều có "sừng" trang trí hình hai đầu chim cu tượng trưng cho tình yêu quê hương và tâm tính hiền hòa của dân tộc.

Tổ chức mặt bằng sinh hoạt của nhà ở thống nhất trong toàn dân tộc. Trung tâm của ngôi nhà là căn mong: nơi thờ tự, tiếp khách, hội họp chung của mọi thành viên trong nhà. Diện tích còn lại được ngăn thành từng buồng (a song): chỗ ở và sinh hoạt của các gia đình. Thông thường thì các buồng được bố trí thành hai hàng theo chiều dọc. Ở giữa là hành lang dành để đi lại. Đến nay ở những nhà đất người ta vẫn duy trì bố cục bên trong nhà như vậy.

Trang phục

Cá tính tộc người không rõ nét, nổi bật mà có sự giao thoa của nhiều yếu tố văn hóa khác trên trang phục. Đồ trang sức bằng đồng, bạc, hạt cườm, xương là phổ biến. Tục cà răng, căng tai, xăm mình, để tóc lá bài trước trán đã phai nhạt đi.

* Trang phục nam: Nam giới đóng khố, mặc áo hoặc ở trần.

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d76 bcae2858.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2799)

* Trang phục nữ: Phụ nữ có áo, váy, có nơi dùng loại váy dài kéo lên che ngực thay áo.

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d76 bee37c95.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2800)

Nhà dài (đinh a choar)

Sau năm 1975 nhà nước có chủ trương xóa bỏ nhà dài, tách thành những hộ riêng biệt vì vậy cho tới nay nhà dài ở vùng người Tà Ôi không còn nữa. Vào năm 1973 khi chuyển cư về Việt Nam làng A Hươr có 3 ngôi nhà dài. Theo lời kể của những người trong làng: trước đây mỗi họ ở một ngôi nhà dài, những họ đông có tới trên 20 hộ sinh sống trong một nhà dài. Mỗi hộ có tới 5-6 người có bếp lửa riêng.

Mặt bằng sinh hoạt của nhà dài

Gian khách được bố trí ở giữa nhà dài, gọi là moong. Hai đầu hồi của nhà đều có cầu thang chính bắc lên nhà. Cầu thang chính thường được dùng để đón khách. Ở mỗi hộ có các cầu thang phụ nhỏ bắc vào sườn nhà đi vào từng hộ. Mỗi hộ có một bếp (apoh) riêng. Tại gian khách cũng bố trí một bếp lửa. Trước đây khi nhà dài có khách đến thăm thì 4 hộ ở xung quanh gian khách là những hộ tiếp khách đầu tiên, sau đó mới đến các hộ tiếp theo lần lượt mang thức ăn đến phòng khách mời khách ăn uống. Đây còn là nơi để cho khách ngủ đêm lại. Những hộ ở gần gian khách có nhiệm vụ thông báo cho các hộ khác để tiếp khách. Khách đến được mời hút thuốc, uống rượu, được mời ăn mía, chuối, lạc, được mang chiếu và gối để ở. Khách ăn cơm có các hộ xung quanh nhà lần lượt mang cơm đến, khách ngủ dậy được mang bầu nước để rửa mặt, sau đó được mời ăn sáng.

Khi săn được con thú nhỏ cũng có thể chia phần thức ăn đó ở gian khách, thức ăn được chia vào lá chuối, rồi mới gọi các hộ đến nhận thức ăn.

Tại những cột nhà dài người ta treo sừng trâu, sừng bò sau mỗi lần gia đình nào đó tổ chức hiến tế. Trước đây người Tà Ôi tại làng có quy định rằng nếu trường hợp một đôi vợ chồng đến thăm làng và nghỉ đêm ở lại chỉ có người chồng được nghỉ ở gian khách còn người vợ sẽ đựợc gửi đến một hộ nào đó để nghỉ. Gian khách của ngôi nhà dài còn là nơi diễn ra các hoạt động chung của làng. Trong phòng khách còn có cây cột to (âr rông mông), nơi để chum rượu lớn buộc vào đó cho chắc chắn.

Tất cả của cải như chum, trống, thanh la, v.v. đều để ở gian khách, không bao giờ xảy ra trường hợp mất hay cầm nhầm. Nếu có việc lớn như tổ chức lễ aja cũng đưa khách về ở gian khách. Gian khách cũng là chỗ thanh niên, ở chỗ đó có chăn chiếu riêng cho thanh niên. Tổ chức việc uống rượu vào dịp khánh thành nhà, cưới xin, mừng con rể, đàn ông vui chơi... đều diễn ra ở gian giữa, đàn bà nấu nướng ở các nơi.

Khi trong nhà có người chết người ta đưa người chết ra bằng lối cửa phụ, không đưa ra lối hành lang vì sợ xui xẻo, bệnh tật ảnh hưởng đến các hộ khác. Khi khách sẽ dọn dẹp đồ đạc trong từng hộ gia đình.

Ở giữa nhà dài là hành lang (ka nang) đi lại dọc theo ngôi nhà dẫn đến từng hộ gia đình. Đây là chỗ thông thoáng không để bất cứ đồ đạc gì trên khoảng không đó, kể cả việc ngồi trên hành lang cũng không được phép, ông già làng là người thường xuyên nhắc nhở công việc đó. Khi một hộ gia đình có con trai lớn lấy vợ mà chưa có điều kiện nối thêm nhà dài thì đôi vợ chồng đó vẫn ở chung với bố mẹ. Ở với cha mẹ chừng một năm khi đã có con cái thì tách khỏi bố mẹ và nối thêm chiều dài của ngôi nhà sau khi xin ý kiến của tập thể. Ví dụ ở ngôi nhà dài hộ A có con lấy vợ, sau đó đôi vợ chồng đó sinh con. Làng sẽ làm thêm một gian ở phía đầu hồi và xin cho hộ kế tiếp với hộ A chuyển dịch ra phía đầu hồi, cứ như thế đối với các hộ tiếp theo. Phụ nữ không được đi theo lối hành lang của ngôi nhà khi vào gian khách trừ khi mang thức ăn cho khách, và không được ăn tại nhà khách.

Ở giữa ngôi nhà dài người Tà Ôi thường làm một cái thang đi lên gian khách. Cầu thang này chỉ có đàn ông và khách mời mới được đi lại, phụ nữ không được phép sử dụng cầu thang này như lối lên.

Phụ nữ khi sinh nở được làm một cái lán nhỏ bằng cách đan một cái sạp bằng tấm liếp quây xung quanh để che chắn gió. Sau khi sinh khoảng một tuần đó cũng là nơi tắm giặt cho sạch sẽ.

Mặt bằng sinh hoạt ngôi nhà dài

Bếp của mỗi hộ sẽ được làm ở giữa nhà, phía trên có một giàn treo, chỗ ngủ của gia đình là sàn nhà. Khi ngủ người ta xoay chân về phía bếp lửa. Cho đến năm 1972 khi làng chuyển về Việt Nam định cư thì cách nằm ngủ của phần lớn người Tà Ôi vẫn như vậy. Củi dùng để nấu nướng hay sưởi ấm được người phụ nữ Tà Ôi kiếm, lượm mỗi khi đi nương rẫy hoặc đi rừng, một vài bó củi đun để xung quanh bếp, phần lớn số củi còn lại để dưới gầm sàn. Sàn nhà cao 1,50 m. Phía dưới sàn người ta quây các chuồng nhỏ để nuôi gia cầm. Kho thóc không được làm gần nhà dài mà được làm ở ngoài bìa rừng, người Tà Ôi sợ hỏa hoạn sẽ làm cho kho thóc cháy sẽ mất nguồn lương thực. Thóc ăn hàng ngày được để trên gác mái nhà dài. Đồ đạc quí hiếm được để trong các Krúh - một loại gùi đan hình trụ có nắp - được đặt gần vách nhà hoặc treo trên mái.

6. Nhà ở

Nhà ở theo theo lối truyền thống hiện nay rất hiếm, kiểu nhà truyền thống được người Tà Ôi gọi là doang. Cả làng hiện nay chỉ còn có một hộ duy nhất xây dựng nhà theo lối truyền thống, đó là gia đình nhà ông Quỳnh Vâng. Đây là hộ chuyển từ Lào đến nhập cư vào làng năm 1996, đến năm 1997 ông đã làm nhà theo dạng truyền thống. Dụng cụ làm nhà chỉ có rìu, dao để đẽo.

Khi chọn được một mảnh đất ưng ý với các tiêu chí như sau: đất bằng phẳng, gần nguồn nước, gần chỗ ở người dân cùng làng, chủ nhà tiến hành việc xem các thần có cho phép mình ở chỗ đất đó hay không. Người ta chọn từ 6 đến 10 hạt gạo rồi đào trên mảnh đất đó một lỗ nhỏ, bỏ gạo vào lỗ đó và thắp hương. Khi hương cháy hết, chủ nhà lấy hạt gạo ra xem. Nếu các thần cho phép dựng nhà ở chỗ đó thì hạt gạo không bị gãy, bị hỏng, trường hợp không được phép hạt gạo sẽ thành bột, bị gãy, vụn.

Nhà người Tà Ôi được dựng ở phía chếch Mặt Trời, khi Mặt Trời lên cao ánh sáng chiếu thẳng vào hướng cửa nhà là không tốt. Trước đây nhà người Tà Ôi được làm trước tháng 6 để tránh mưa gió. Khi dựng cột nhà phải xem giờ, khoảng 4-5 giờ sáng, lúc Mặt Trời chưa mọc, chưa có chim hoặc hoãng kêu, người Tà Ôi quan niệm thần nhà không thích nhiều tiếng động của chim thú sẽ gây ra rủi ro.

Ngày dựng cột chính, hương được thắp theo lối dân tộc, người ta dùng một cái giỏ có chân bỏ vào: 6 chén, thịt gà. Khi cúng già làng sẽ là người chủ tế, mọi người đứng ở xung quanh. Các trường hợp chuyển nhượng nhà sau khi mua cũng phải làm lễ cúng, ví dụ: nhà Kê Văn Tham mua của Hồ Viên Pả, khi chuyển về ở phải tổ chức lễ cúng, đồ cúng có: gà sống, tấm rèng, chén rượu.

Nhà của ông Quỳnh Vâng được làm theo lối cổ truyền có chiều dài 5,40 m chiều rộng 4,20 m, tổng diện tích của nhà là 22,68 mét vuông. Trên một đơn vị diện tích mặt bằng đó bố trí các công năng của nhà như sau: Hai đầu hồi nhà phía đông và phía tây là phía cửa ra vào với cầu thang (kpong) đi lên, cửa chính có chiều cao 1m30 chiều rộng 70 cm. Phía tây có một bếp lửa hình vuông có chiều rộng 1m vuông làm chỗ nấu nướng, trên bếp có để một gác để ngô, sắn và các loại thức ăn. Đối diện với bếp lửa là chỗ nằm của ông chủ nhà có dải một chiếc chiếu làm nơi nằm ngủ. Nhà có 3 cửa sổ (a loang a be) có chiều cao dài 93 cm chiều rộng 66 cm. Nhà ở có 6 cột chính (non) các xà gắn kết với cột chính theo nguyên tắc ngòam, khi dựng nhà người Tà ôi cũng dựng những cột chính này đầu tiên. Sau đó là các xà dọc liên kết tạo thành khung nhà. Tiếp theo là các bộ kèo cột, các đòn tay (ploi). Mái nhà được lợp tranh, vách nhà (ner) được đan bằng lồ ô đập dập đan vào nhau. Nhà ông Quỳnh Vâng làm năm 1997 tại làng là ngôi nhà duy nhất tính đến thời điểm hiện nay được làm theo phương pháp cổ truyền.

Khi khánh thành nhà vào năm 1997, Quỳnh Vâng làm cá, gà nướng, đồng thời được sự hỗ trợ của con rể chuẩn bị cho một con bò để làm lễ mừng nhà mới. Địa điểm đâm bò nằm ở phía trước sân nhà. Lễ khánh thành nhà ngoài việc giết thịt một con bò, một con lợn, gà buộc xung quanh cột phía trước nhà. Nam nữ còn đánh chiêng trống đi xung quanh ngôi nhà và quanh các con vật hiến tế. Sau khi các con vật hiến tế bị giết, số thịt được chia cho mọi người ở trong làng ăn uống.

Tín ngưỡng

Hồn vía và các siêu linh

Người Tà Ôi quan niệm vạn vật đều có linh hồn, tín ngưỡng đa thần chi phối hầu hết các mặt trong cuộc sống của họ. Trong thế giới thần linh của người Tà Ôi trước tiên phải kể đến hồn.

Trước tiên là hồn, hồn được nằm ở khoảng từ ngực cho đến đầu khi người còn sống. Khi người chết rồi thì cũng chỉ có một hồn (avai ving) và hồn đó lang thang ở nghĩa địa. Khi người chết không bằng lòng với gia đình thì hồn này về quấy phá người sống. Trong các dịp cúng lễ hồn của người chết cũng thường về thông qua những giấc mơ (am bo) của người sống. Theo người Tà Ôi thì hồn được hóa thân như tiếng nói, hoặc hồn có thể tạo ra một sức mạnh tác động đến vật thể khác, ví dụ như hồn có thể về gõ cửa. Người Tà Ôi còn cho rằng người chết sau 3 ngày thì có thể quay trở về đòi của cải nếu không được người sống chia cho. Cũng từ cách suy nghĩ trên mà người Tà Ôi còn dùng cách rải tro ở trước cửa để nhìn thấy dấu chân của hồn về sau khi có người nhà chết. Năm 2003 khi ông Võ Dậu mất, bà Ka Dậu là vợ dùng tro rải trước thềm và thấy ông bước chân của ông in trên tro, đúng là ông đã về. Có nhiều người còn thấy hồn về với tiếng động như rót nước hoặc lấy thức ăn trong nồi. Người Tà Ôi nói sau khi chết 3 ngày, người chết mới thật sự biết mình mất, trước đó thì không biết, như một người mơ ngủ không tỉnh không say. Hồn xấu là những người chết thiêng, nhất là đàn bà chết do sinh nở, chết bị hổ vồ, người chết ở dạng này hay hiện ra mộ kêu khóc và trêu chọc người sống. Người chết có thể về xin các đồ vật như quần áo, gùi, dao... Lúc này gia đình của người chết có thể dùng lá chuối cắt thành hình chữ T thay cho áo, cắt hình chữ V thay cho quần. Người giàu có thì dùng 2 tấm vải vứt ra ngoài và nói tôi đã cho, đừng xin thêm và phải phù hộ cho tôi. Trường hợp không bằng lòng hồn có thể về làm cho người sống đau ốm, hoặc làm các công việc bị mắc nợ, không trôi chảy.

Ma (brau briêu) đây là loại ma rừng có thể phù hộ cho người sống tuy nhiên cũng có thể gây ra ốm đau bệnh tật. Theo người Tà Ôi thì ma brau briêu có thể sai khiến được hổ, rắn, muông thú để làm hại người.

Trước đây hàng năm người Tà Ôi có tổ chức cúng các giàng: trời (abang), thần đất (katek) thần rừng (krúm kaek). Tổ chức cúng trời đất phải 10-12 năm một lần, vì khi cúng phải có trâu. Khi làng giàu có, không có người chết, làng được bội thu tổ chức cúng tạ ơn. Các trường hợp làng bị bão lụt, thiên tai cũng tổ chức cúng thần trời, đất, nhà rông, nhà ở. Khi tổ chức đâm trâu cúng cho trời có 12 loại thức ăn, cúng đất là 8 loại thức ăn, cúng cho giàng kmưk là 5 loại thức ăn: trâu, lợn, gà, tiết canh, món nướng, món thái, làm canh làm xôi. Cơm được để trong chén và rót nước đót, có chum nhỏ và chén nhỏ rồi thắp hương.

Thần nước (giàng đak)

Thần nước được người Tà Ôi hình dung là một người đàn ông thấp, bé nhỏ có râu tóc bạc phơ. Thần nước còn có thể ban cho người dân nhiều cá ăn, trong truyền thuyết người Tà Ôi kể rằng thần nước tạo ra cá bằng cách bỏ hạt gạo vào lá chuối rồi đưa chỗ suối, những hạt gạo sẽ biến thành cá và người ta sẽ bắt được nhiều cá. Khi ở bên Lào các ông Quỳnh Say, Quỳnh Chay đã từng nhìn thấy thần nước ở chỗ đầu ngọn thác, gọi là Avó còn có nghĩa là bác thể hiện tôn trọng của người Tà Ôi (có thể họ chỉ hình dung như vậy). Thần nước có mối liên hệ đặc biệt với lễ khánh thành bến nước, lần đầu tiên khi làm bến nước, nước được dẫn về làng qua các ống lồ-ô, lúc này không người nào được sử dụng nước. Các trưởng họ và già làng đem con gà còn sống cầu mong cho nước ăn không đau bụng, nguồn nước không bao giờ tắt. Sau khi cúng xong giết gà bên nhà rông và lấy máu chôn ở chỗ có nước. Chỗ cột cuối cùng có vòi nước được làm rất đẹp và chôn máu gà (sôl rtang dak) được làm và sửa hàng năm. Nước lần đầu tiên khi sử dụng dân làng phải làm một con gà, một con lợn, một con dê không cho người làng khác được sử dụng. Lúc đó già làng sẽ làm lễ cúng mời thần nước (aul –avó dak).

Thần chỗ ở gia đình (giàng an teng)

Trước đây người Tà Ôi ở trong những ngôi nhà dài, mỗi gia đình sở hữu một gian trong ngôi nhà dài. Trong khoảng không gian đó người Tà Ôi đều thờ thần chỗ ở gia đình của mình. Thần chỗ ở gia đình thường xuất hiện từ giấc mơ của chủ nhà, khi ngủ người Tà Ôi mơ thấy thần chỗ ở gia đình nhập vào tấm khố, tấm rèng hay bất cứ đồ vật nào thì người ta sẽ bỏ đồ vật đó vào cái kang (một loại gùi được đan đặc biệt) và để ở góc nhà. Chủ nhà sẽ làm một con gà để làm lễ cúng nhập giàng an teng vào hộ gia đình mình. Kể từ thời điểm đó, bất cứ gia đình có công việc gì như đám ma, đám cưới, cúng thần rừng, thần nước thì đều tiến hành cúng thần nhà. Đặc biệt trong mỗi dịp gia đình có hoàn thành một công việc gì người ta đều cho rằng có sự trợ giúp của thần chỗ ở gia đình, trong các dịp bình thường khi cúng thì không cần mở kang có đồ vật mà giàng đã nhập vào. Trong năm chỉ có dịp dân làng tổ chức aja thì hộ gia đình đó mới mở kang để lấy đồ vật ra cúng, thường đồ vật này được mang ra nhà rông để làm lễ cúng. Khi kang-chỗ ngự trị của thần chỗ ở gia đình được đặt ở góc nhà khi làm lễ cúng, chủ nhà thường để cơm, gạo, thịt phía trước kang để cúng.

Thần nhà dài (giàng đanh)

Trong ngôi nhà dài có nhiều hộ gia đình sinh sống thì thần nhà dài (giàng đeng) ngự ở gian khách. Chủ nhà dài sẽ làm một cái nhà nhỏ để thần nhà ngự ở trong đó và treo ở dưới nóc nhà. Trong gia đình có người bị đau ốm hay xảy ra bất cứ công việc gì người ta cúng thần gia đình xong thì đều cúng thần nhà dài. Khi làng có dịp gì chủ nhà dài đều cúng thần nhà dài, trước đây có quy định các hộ trong nhà dài khi ăn dê, trâu, bò đều phải cầu cúng cho thần nhà dài được biết.

Thần hổ (giàng avó)

Trong hệ thống thú rừng của người Tà Ôi, con hổ được coi là con vật có sức mạnh nhất. Hổ được người Tà Ôi coi như vị thần bảo hộ cho làng. Việc bắt được hổ theo quan niệm của người Tà Ôi được ví như món quà tặng của thần rừng. Xuất phát từ giấc mơ ngẫu nhiên, trong làng có người làm loại bẫy to (tì hò), người chủ bẫy về đến nhà mơ thấy con hổ (a vó bok) báo mộng, khi đó người chủ bẫy mơ thấy hổ xin ở lại với làng. Khi hổ mắc bẫy người ta tổ chức cúng thần rừng với các đồ vật hiến tế như sôl, leo, chuẩn bị hạt mã não, tấm rèng. Việc tổ chức cúng tạ ơn thần rừng được làm chu đáo, sau đó người ta mới cắt đầu hổ rồi mang về làng. Một nhóm thanh niên làm nhà mồ cho hổ (ping a vó), khi làm xong nhà mồ thì chưa đặt đầu hổ vào bên trong. Làng tổ chức lễ hiến sinh bằng cách giết thịt một con dê, một con gà, một con lợn để khánh thành ngôi nhà mồ đó. Các đồ cúng được đặt trong mâm để trong nhà mồ. Chủ làng sẽ nói: hổ muốn ở lại làng phải bảo vệ làng không được để cho người chết, khi có xung đột, chiến tranh giữa các làng khác phải thông báo sớm qua giấc mơ. Nếu có người phá phách hoặc đốt làng, phải phạt người đó. Khi tiến hành việc cúng đầu hổ không cho phụ nữ mang thai vào nhà mồ, người khách lạ cũng không được vào. Nếu khách ở làng khác đến chơi phải báo trước cho chủ làng.

Hàng năm người ta vẫn đến tiến hành thăm nhà mồ có đầu hổ. Trong các thôn của xã Nhâm chỉ có làng Nhâm I còn có tục thờ thần hổ, làng Ka Linh, Tà Kêu trước đây ở bên Lào cũng có. Từ chiến tranh chống Mỹ cho đến nay người ta không còn giữ thủ tục này.

Vị trí của ngôi nhà mồ dành riêng cho hổ được chôn ở phía trên nhà mồ của người, không ai có quyền vào khu nhà mồ của hổ. Nhà mồ của hổ được rào bằng đá xung quanh. Ở giữa ngôi nhà mồ người ta để hòn đá, trên hòn đá người ta đặt chiếc đầu hổ, người ta cũng chia cho hổ các vật dụng như: vòng tay, bát đựng thức ăn, tấm rèng, sừng trâu, bò, hàm răng lợn. Các loại đồ thờ cúng này ông già làng phải phân bổ cho các hộ chuẩn bị.

Hàng năm khi người Tà Ôi tiến hành tổ chức ăn năm mới, hay cúng khánh thành nhà rông, thần hổ đều được chia phần, khi tuốt lúa mới phải thổi cơm dành phần cho thần hổ ăn. Một năm tổ chức vệ sinh cho khu nhà mồ hổ một lần, khách ngoài làng không được phép vào trong khu nhà mồ đó. Việc thờ đầu hổ xuất phát từ niềm tin rằng hổ sẽ báo mộng cho người ta biết làng sắp gặp chuyện chiến tranh, mất mùa, có dịch bệnh. Các điềm báo xấu đó thông qua giấc mộng đến với người trong làng. Trước đây ở bên Lào có nhiều trường hợp một làng thờ đến 2 đầu hổ.

tuyemthoi
22-09-2008, 05:02 PM
16 - Dân tộc Sán Dìu

Tên dân tộc: Sán Dìu (Sán Déo, Trại, Trại Ðất, Mán quần cộc).

Dân số: 126.237 người (năm 1999).

Ðịa bàn cư trú: Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Tuyên Quang.

Phong tục tập quán:

Ở nhà trệt, mái lợp rạ, tranh hoặc ngói trong từng xóm nhỏ. Thờ cúng tổ tiên, táo quân, thổ thần... Trong một năm có các lễ: Thượng điền, hạ điền, cơm mới, cầu đảo... Cha mẹ quyết định việc cưới xin. Người cha là chủ gia đình. Con theo họ cha, con trai được hưởng gia tài. Nhiều lễ thức trong ma chay.

Ngôn ngữ: Ngôn ngữ thuộc nhóm Hán.

Văn hoá: Lối hát đối nam nữ rất phổ biến. Các nhạc cụ: tù và, kèn, trống, sáo, la thanh. Các trò chơi dân tộc: đi cà kheo, đánh cầu lông, đánh khăng, kéo co.

Trang phục: Mặc gần giống người Kinh.

Kinh tế: Làm ruộng lúa, chăn nuôi, khai thác lâm sản, đánh cá, làm gạch ngói, rèn, đan lát,... Sử dụng chiếc xe quệt (không bánh) dùng trâu kéo để vận chuyển. Ðồ giải khát thông thường là nước cháo loãng.

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d76 d3f7b5b7.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2801)

----------------------------------------

HÁT SOỌNG - CÔ DÂN TỘC SÁN DÌU

Soọng-cô là dân ca của đồng bào dân tộc Sán Dìu. Hát Soọng-cô chủ yều là phần hát đối đáp giao duyên. Sau đó là phần hát trong đám cưới, Soọng-cô được hát theo sách, có bài bản sẵn. Người đi hát phải thuộc sách hát. Họ dẫn câu hát trong sách ra để hát đố. Người đáp cũng nhờ thuộc sách mà trích ra những câu hợp cảnh hợp tình để hát đáp câu hỏi.

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d76 dafe9d0b.gif (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2802)

Hát soọng-cô dân tộc Sán Dìu

Mỗi đêm hát đều có các bước: Chập tối hát giọng, mời ngồi xuống chiếu, mời nước mời trầu. Nửa đêm là hát hỏi: Hỏi về quê quán, gia sự, hát thăm dò tìm hiểu nghề nghiệp, ý nguyện của nhau,… canh ba chủ nhà mời ăn lót dạ xôi hoặc chè cháo, sau đó là hát chào, hát xin về, hát níu giữ nhau. Sáng ra thì họ vừa tiễn nhau ra cổng, vừa hát hẹn hò cuộc hát tới.

Khi hát không được đùa cợt, không vì phục tại, cảm thông, yêu mà tách ra đưa nhau đi tỏ tình riêng. Nếu ưng nhau, thì gặp nhau sau để rồi lựa tìm ông mai mối (Mu Nhin) mối manh cho mình. Các cặp vợ chồng sau đó coi ông bà Mu Nhin như cha mẹ đẻ, sống tết, giỗ chết. Ông bà Mu Nhin qua đời, cặp vợ chồng phải có một con lợn đến làm ma.

Hát đáp đối hát theo giọng ví kể nể gọi là hát cọc. Hát đám cưới thường là hát du. Giọng du dài, nếu một từ hát cộc kể ra rồi bắt ngay sang từ khác nhưng hát du thì du đi du lại ngân nga luyến láy điệp khúc kéo dài đến dăm bẩy lần hát cộc. Soọng - cô trong đám cưới thường do các cặp nam giới đối đáp nhau, nhà trai cử hai anh, nhà gái cử hai anh. Hát giọng du thì song ca, hát cộc thì đơn ca. Mở đầu cuộc hát cưới là cặp hát nhà trai hát chào ông bà chủ, chào cô, dì, chú, bác, chào bà con anh em, trước hết là bàn thờ tổ tiên. Khi tốp nhà trai hát, tốp nhà gái hát đáp lại từng câu, từng bài. Khi hai họ ăn uống họ vẫn hát, mừng cho khách ăn uống no say. Hát suốt ngày suốt đêm cho đến khi tan cưới.

----------------------------------------------------------

Đời sống sinh hoạt của đồng bào dân tộc Sán Dìu

1. Địa bàn cư trú

Người Sán Dìu có tâm lý và sở thích chọn nơi đất ở là vùng bán sơn địa: Có núi, có đồi, có đất bằng ở ven sông, ven suối để khai khẩn thành ruộng lúa nước. Người Sán Dìu ở Vĩnh Phúc đã chọn, sinh sống ở vùng ven chân núi Tam Đảo phía Nam. Những nơi này từ xưa là rừng nguyên sinh rậm rạp, nhiều chim muông thú rừng, đất đai màu mỡ, có tầng đất mùn dày dễ trồng cấy các loại cây lương thực. Nhiều dòng khe, dòng suối lớn nhỏ bắt nguồn từ từ trên núi Tam Đảo với nguồn nước vô tận. Lại có nhiều loại cá tôm, lươn, cua, ốc, ếch - nguồn thực phẩm dồi dào cung cấp cho con người. Địa thế các xã: Minh Quang, Tam Quan, Trung Mỹ, Hồ Sơn, Hợp Châu...nơi có đông đảo đồng bào Sán Dìu cư trú là một dải đất khá bằng. Từ những năm 60 trở về trước vùng này còn là rừng cây âm u rậm rạp, nơi đất bằng đã được khai khẩn thành ruộng gieo trồng cây lương thực. Ở vùng các xã Đạo Trù, Yên Dương, Bồ Lý, Quang Sơn, Bắc Bình...phía Đông - Bắc huyện Lập Thạch nơi có đồng bào Sán Dìu cư trú cũng có địa thế tương tự. Vùng này còn có dòng sông Đáy - nguồn cung cấp nước và nguồn thực phẩm dồi dào cho đồng bào.

Khi đã chọn được vùng đất hợp lý, với tâm lý và tập tục canh tác họ dành nơi đất bằng để khai khẩn ruộng lúa nước, đất gần bờ suối bờ sông làm soi bãi, đất đồi gò làm nương rẫy. Ở ven những cánh đồng làm nhà ở tạo thành những bản đông vui.

2. Kỹ thuật gieo trồng

Người Sán Dìu đã sớm có nền văn minh cấy lúa nước. Họ sớm tiếp thu kỹ thuật gieo trồng mới của dân tộc bạn. Phương pháp khai khẩn đất hoang không ngoài biện pháp chặt cây, phát cỏ rồi đốt, dọn sạch gieo trồng lúa, ngô khoai rau đậu vài vụ, đến khi gốc rễ cấy mục nát, họ cuốc xới san bằng, đắp bờ chờ trời mưa hoặc đắp phai, đập nhỏ khơi luồng nước vào ruộng. Dùng sức người hoặc trâu bò kéo san bằng, cày, cuốc, bừa cho đất nhuyễn rồi cấy mạ đã gieo sẵn vào ruộng. Một số vùng đồng bào Sán Dìu ở Vĩnh Phúc có những cánh đồng bằng phẳng với hàng trăm mẫu Bắc bộ như ở Đạo Trù, Minh Quang, Hợp Châu, Đại Đình huyện Tam Đảo. Đến nay đã có nhiều công trình thuỷ lợi lớn được Nhà nước đầu tư như hồ Đại Lải, Xạ Hương, làng Hà, Đạo Trù với hàng nghìn km kênh mương dẫn nước về để đồng bào canh tác. Song phần lớn đồng ruộng của đồng bào Sán Dìu vẫn là ruộng bậc thang thấp, ruộng dộc, ruộng chằm lầy lụt ở những thung lũng đồi núi hẹp. Không chủ động nguồn nước tưới tiêu. Trước đây chỉ làm một vụ mùa vào mùa mưa, năng suất thấp. Số thóc làm ra từ ruộng đất chỉ đạt 50% nhu cầu lương thực cho con người nên họ phải đa canh làm thêm soi bãi, phát thêm nương trên đồi rừng để trồng các loại hoa màu khác như: ngô, khoai, sắn, đậu đỗ , lạc vừng...bổ sung vào nguồn lương thực. Người Sán Dìu còn có phương pháp luân canh: Trên một vạt nương đồi hoặc soi bãi, những năm đầu đất còn tốt họ trồng lúa cạn (lúa nương), xung quanh trồng đậu đỗ. Năm thứ 3 trồng lạc, đỗ vừng, khoai sọ. Có nơi năm thứ 4, thứ 5 quay sang trồng mía, sắn rồi củ từ, củ mỡ. Vì đất những năm sau đã bạc màu, họ chuyển sang trồng những loại cây có rễ dài ăn sâu xuống đất như chè, dứa...rồi biến vạt nương này thành cây ăn quả lâu năm hoặc cây lấy dầu, lấy gỗ như: trẩu, sở, xoan...

Người Sán Dìu thường có những loại ruộng sau:
- Ruộng nước trên những cánh đồng tương đối bằng.
- Ruộng dộc, ruộng bậc thang, ruộng chằm lầy.
- Ruộng cạn soi bãi, nương đồi (lúa cạn + ngô).

Người Sán Dìu cũng đã sớm hiểu biết và tiếp thu kỹ thuật thâm canh cây lương thực (nhất là cây lúa nước) " Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống..." của người Kinh. Khi khai khẩn đất hoang để làm ruộng họ đã chú ý đến lấy nguồn nước ở đâu: " Kẹn then, kẹn súi, mạo kẹn nhìn" tức là nhìn trời, nhìn suối, không nhìn người. Làm ruộng không phải chỉ nhìn vào sức người mà phải nhìn vào cả trời và nước (tức dòng suối - nguồn nước). Vì vậy ở đâu có cánh đồng lúa nước thì phía cao đều có một con phai, đập nhỏ ngăn dòng khe, hoặc suối bằng cách thô sơ như: Chắn đá, đóng cọc tre, đắp đất ngăn nước đào mương đưa vào ruộng. Thời kỳ xây dựng HTX nông nghiệp, những con đập này được gia cố bằng gạch, bê tông cốt thép, hệ thống mương máng được mở rộng kiên cố hơn. Những công trình thuỷ lợi nhỏ này thấy nhiều ở các xã Đạo Trù, Hồ Sơn, Ngọc Thanh...nơi chủ yếu đồng bào Sán Dìu cư trú.

Về nông cụ của người Sán Dìu không có gì đặc biệt. Vẫn là con dao, cái cuốc, cái xẻng, cái gạt dùng sức người, cái cày, cái bừa, con lăn dùng sức trâu, bò kéo. Dụng cụ thu hái vẫn là cái liềm cắt lúa, cái cuốc, cái thuổng đào củ, đôi quang, cái sọt quẩy gánh lương thực. Tuy nhiên người Sán Dìu có một phương tiện vận tải khá đặc biệt là chiếc xe quệt. Chưa thấy tài liệu nào nói là chiếc xe quệt này là của người Sán Dìu sáng tạo. Từ những năm kháng chiến chống Pháp đã có câu chuyện dùng xe quệt tải đạn tải lương...nói là của một chiến sỹ người dân tộc Sán Dìu sáng tạo. Viết là xe nhưng thực ra không có bánh lăn, khung chứa gần giống như chiếc xe bò, xe ba gác, có 4 thanh quệt xuống đất đỡ lấy khung chứa. Hai thanh đằng trước dài khoảng 2,5m giống như hai càng xe bò, xe trâu được bắc cái vạy đặt vào vai trâu hoặc bò khoẻ, phần cuối quệt xuống đất có độ cong thích hợp đơc cho khung chứa thăng bằng. Xe có thể đi ở bất kỳ loại đường nào, kể cả đường ruộng bậc thang, đến đường mòn đèo dốc.
Người Sán Dìu ở Vĩnh Phúc từ lâu làm ruộng là chính, làm nương soi bãi là phụ. Chăn nuôi cũng là một nghề chính ngang hàng với nghề trồng trọt. Theo tính toán của một số "lão nông chi điền" người Sán Dìu ở xã Minh Quang (Tam Đảo) thì chăn nuôi đã tạo nên thu nhập chiếm 40% so với tổng thu cả năm của một gia đình trung nông, trong đó lúa ngô + cây có bột chiếm 40%, còn lại các nguồn thu khác 20%.

Con trâu vẫn là "đầu cơ nghiệp" đối với nghề nông của người Sán Dìu. Thứ nữa là con bò, con lợn, đây là ba loại gia súc lớn đem lại nguồn lợi thiết thực như: sức kéo, thực phẩm, phân bón và cả nguồn tiền khi cần chi tiêu trong gia đình. Đặc biệt người Sán Dìu có kiểu cho trâu bò ăn cháo ngô có pha muối khi chúng sinh đẻ. Người phụ nữ chăn nuôi trâu, bò, lợn là chính. Số lượng trâu bò cũng chính là một tiêu chí đánh giá giàu nghèo, tài sản của các tầng lớp người trong cộng đồng. Nghề phụ trong nông nghiệp chỉ có nghề đóng cày bừa, nghề mộc, đan lát những vật dụng cần thiết. Trước đây người phụ nữ có nghề dệt vải thô mộc, không có nhiều hoa văn đẹp như một số dân tộc khác.

3. Nhà ở

Là nhà đất giống như nhà của người Kinh. Vào một bản làng của người Sán Dìu không khác so với thôn, làng của người Kinh ở trung du. Thời xưa ngôi nhà làm bằng tre gỗ, lợp rơm rạ, cỏ tranh tuỳ theo điều kiện kinh tế và số người trong gia đình, làm ngôi nhà to hay nhỏ, nhiều gian hay ít gian. Song thường có khuân mẫu: 3 hoặc 5 gian, kiêng làm nhà chẵn 2,4. Nếu là nhà 5 gian thì 2 gian đầu hồi thường làm thò ra từ 1,5m đến 2m, 3 gian giữa thụt vào theo hình chữ "U". Hai gian thò ra thường được ngăn đôi thành 4 phòng để vợ chồng con trai, con dâu và con gái ở. Một phòng là bà vợ chủ nhà, một phòng là kho để thóc hoặc của cải. Ba gian giữa là chung, gian giữa để bàn thờ, 2 gian hai bên kê giường ông chủ, con trai hoặc khách. Hai phía trái nhà chính nhất thiết phải có 2 cái nhà phụ để làm bếp nấu ăn và để các đồ lặt vặt. Một cái làm kho chứa và chuồng trâu, bò lợn, gà.

Xét về sinh hoạt gia đình, bố trí như kể trên có thể xem là rất khoa học, văn minh, an toàn trong cuộc sống. Kiểu bố trí nhà ở này mang phong cách nhà cổ Trung Hoa.

Thời nay, vật liệu làm nhà dần được thay bằng gạch vôi, xi măng lợp ngói đỏ. Song người Sán Dìu vẫn thích làm nhà theo mô hình trên.

4. Trang phục truyền thống

* Trang phục nam giới:
Từ những năm 1980 thế kỷ XX trở về trước, trang phục của người Sán Dìu có rất nhiều thay đổi, nhất là ở nam giới. Trong các dịp lễ tết, ngày hội người đàn ông thường mặc áo dài màu đen (chàm) bên ngoài áo cánh trắng, bên trong áo 5 thân cổ cao có gài khuy vải bên phải (giống như áo của người Kinh) ống quần hẹp, chỉ dài quá gối một chút. Ngày thường họ mặc áo ngắn cúng 5 thân màu nâu hoặc màu chàm, có túi nhỏ phía vạt áo nhưng miệng túi ở phía trong để đựng thuốc lào hoặc tiền nong.
Quần thì màu nâu hoặc trắng theo kiểu chân qùe ống rộng. Đàn ông để tóc dài búi tó sau gáy có cài trâm, ngày lễ tết đội khăn xếp như đàn ông người Kinh thời trước. Khi đi làm chủ yếu là đi chân đất, đi đâu xa họ đeo dày vải. Người nghèo đi dép quai ngang đế bằng da trâu, về sau họ đi dép bằng cao su, đi guốc mộc. Nam giới ít dùng đồ trang sức, họ hay bịt răng vàng, trước nữa thường nhuộm răng đen, ngón tay đeo nhẫn bạc.
Ngày nay, người đàn ông Sán Dìu ăn mặc như người Kinh, quần áo nâu hoặc âu, áo sơ mi.

* Trang phục nữ giới:

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d76 f8946465.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2803)

Trang phục nữ giới phong phú hơn trang phục nam giới: Váy: xà cạp; áo: dèm; khăn; xà lạp; đồ trang sức. Nhìn tổng thể, bọ áo váy phụ nữ Sán Dìu không thêu thùa nhiều kiểu hoa văn xanh đỏ, đen, trắng như một số dân tộc khác mà vẫn đẹp, gọn gàng tình tứ. Nữ phục truyền thống gồm khăn đội đầu, áo dài ngang đầu gối, áo ngắn mặc bên trong, ngực đeo yếm trắng, váy xẻ nhiều lớp dài đến ngang đầu gối, bắp chân cuốn xà cạp trắng, đi chân đất (trước đây). Nay, trong các ngày lễ, hội các thiếu nữ đều đi dép hiện đại. Váy áo đều màu chàm thắt lưng bằng dải lụa xanh đỏ. Ve áo nẹp bằng vải trắng tạo thành hai vết trắng mềm mại hình chữ "V" mở từ hai vai khép lại ở thắt lưng ngang eo bụng. Áo dài có 4 thân, cổ bẻ có nẹp trơn. Cách mặc áo có sự phân biệt giữa người có chồng và người chưa có chồng. Phụ nữ có chồng và người già thường mặc áo vạt trái vắt sang bên phải, còn phụ nữ chưa chồng thì vắt ngược lại.
Đặc biệt chiếc váy của người phụ nữ Sán Dìu thời xưa là váy xẻ miếng nhiều. Người ta xếp những miếng vải chàm chồng lên nhau ở phần trên rồi khâu lại có dây dải buộc vào eo lưng. Phần dưới để xếp, không khâu chỉ. Váy chỉ dài đến đầu gối (bằng với áo) thường là 5 hoặc 7 miếng vải xếp lại. Đây có lẽ là váy độc đáo của người phụ nữ dân tộc Sán Dìu. Thời nay họ may váy 2 mảnh xếp phía trước và phía sau lồng vào nhau 2 bên. Với kiểu váy này khiến người phụ nữ luôn luôn phải giữ ý tứ khi lao động cũng như khi giao tiếp. Khi đi chợ muốn mua, xem một mặt hàng náo đó, họ không thể cúi xuống mà phải quỳ gối xuống đất rồi mới cầm mặt hàng lên xem. Theo các cụ già kể lại thì chiếc váy cổ có nhiều mảnh hơn, tới 8-10 mảnh, nhưng lại là mảnh nhỏ, và nó có tên là "váy lá" (xệch khúm) tạo xung quanh đùi có nhiều kẽ hở. Người phụ nữ Sán Dìu còn một số đồ trang sức như vòng cổ, vòng tay, xà tích nhẫn bạc, túi đựng trầu. Hầu hết phụ nữ Sán Dìu ngày xưa nhuộm răng đen ăn trầu. Cái túi trầu cũng là một đồ trang sức dài khoảng 15cm, được may hình múi bưởi, có dây luồn vào miệng túi để rút (đóng túi lại) và mở ra khi ăn trầu. Hai quai túi được dệt bằng chỉ xanh đỏ nhiều hoa văn đẹp, đầu quai có tua chỉ xanh đỏ thường được quàng vào cổ để phía trước ngực thuận lợi khi ăn trầu cau. Khi đi đường họ vắt ra phía lưng hoặc buộc vào thắt lưng cho tiện. Miệng túi trầu thêu thùa nhiều hoa văn đẹp. Phụ nữ Sán Dìu còn có cái địu con nhỏ được may đơn giản, chỉ là vài miếng vải thô, nhuộm chàm hoặc nâu, chiều rộng khoảng 0,04m, chiều dài 0,06m (hình vuông) hai đầu được luồn vào hai dải vải hoặc dây dệt chỉ xanh chỉ đỏ, để buộc vào eo lưng người mẹ quàng vào đứa trẻ ấp sau lưng, hai đầu dây trên quàng vào vai mẹ vòng ra phía sau buộc lại đỡ lưng đứa trẻ. Từ đấy người mẹ có thể làm việc nhẹ như giã gạo, sàng xảy gạo, nấu nướng...

Cũng như một số dân tộc khác sống ở vùng núi đồi thấp như Tày, Cao Lan, Mường...Người phụ nữ Sán Dìu dần dần bỏ cách trang phục áo váy truyền thống. Nhất là lớp thanh niên, phụ nữ trẻ, họ học tập theo mốt ăn mặc của người Kinh, gọn gàng hơn. Hiện nay vào bản làng của người Sán Dìunếu không quan sát kỹ thì không biết họ là người Kinh hay người dân tộc. Ở một số bản làng vùng sâu như: Đạo Trù (Lập Thạch), Ngọc Thanh (Mê Linh) một số nơi ở Bình Xuyên người phụ nữ vẫn còn những bộ váy truyền thống để giành khi có lễ hội hoặc khi người già chết, người ta mặc cho người chết bộ áo váy đẹp theo truyền thống để về thế giới bên kia

tuyemthoi
22-09-2008, 05:21 PM
17 - Dân tộc Pu Péo

Tên dân tộc: Pu Péo (Ka Beo, Pen Ti Lô Lô).

Dân số: 705 người (năm 1999).

Ðịa bàn cư trú: Hà Giang.

Phong tục tập quán:

Ở nhà trệt, sống tập trung thành từng nhóm nhỏ bên cạnh người Hoa, Mông. Mỗi dòng họ có tên đệm riêng. Con cái lấy họ cha, người cha là chủ nhà. Người Pu Péo coi trọng thờ cúng tổ tiên. Trên bàn thờ thường đặt những hũ sành nhỏ, mỗi hũ tượng trưng cho một đời.

Ngôn ngữ: Ngôn ngữ thuộc nhóm Kadai.

Văn hoá: Dân tộc Pu Péo là một trong số ít dân tộc còn sử dụng trống đồng, trống "đực" và "cái" được ghép với nhau thành cặp. Có các ngày lễ: lễ cưới hỏi, ma chay, cầu an, Tết Nguyên Đán, tết mùng 5 tháng 5...

Trang phục: Nữ dùng khăn, váy, áo, tạp dề, sử dụng kỹ thuật can đáp vải khác màu để có hoa văn sặc sỡ. Nam mặc như các dân tộc khác quanh vùng.

Kinh tế: Làm nương, ruộng nương, trồng ngô, lúa, lúa mạch, đậu. Sử dụng cày bừa trâu bò làm sức kéo. Bữa ăn hàng ngày là bột ngô đồ chín.

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d77 23316f75.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2804)

--------------------------------------
Người Pu Péo ở Hà Giang

Tộc người Pu Péo vốn là dân cư vùng bản địa Nam Trung Hoa, do nhiều biến cố của lịch sử, người Pu Péo thiên di từ vùng Nam Trung Quốc xuống vùng Bắc Việt Nam. Theo nhiều tài liệu cho biết, người Pu Péo có mặt tại Hà Giang vào cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, hầu hết tập trung ở các xã Phố Là, Phó Bảng, Phó Cáo, huyện Đồng Văn. Xóm Chúng Chải, xã Phố Là được coi là trung tâm gốc của người Pu Péo ở tỉnh Hà Giang vì tất cả các nhóm hay cá thể Pu Péo đều có mối liên hệ thống huyết với người Pu Péo ở đây.

Người Pu Péo canh tác cả nương rẫy và ruộng lúa nước, chăn nuôi nhỏ lẻ, mang tính tự cung, tự cấp, nghề thủ công chủ yếu là đan lát, dệt vải, rèn, đúc, buôn bán nhỏ. Dân tộc Pu Péo có nền văn hóa kết hợp nhiều nét văn hóa của các dân tộc vùng cao biên giới phía Bắc, như: Mông, Dao, Nùng, Lô Lô... nhưng cũng có những nét văn hóa riêng độc đáo. Ngôi nhà ở truyền thống của đồng bào Pu Péo trước đây là nhà sàn, nhưng để phù hợp với khí hậu và nơi sinh sống, đến nay đa số gia đình người Pu Péo đã chuyển sang ở nhà trình tường, lợp ngói ống, ấm về mùa đông, mát về mùa hè.

http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/548d77 3750c8d8.gif (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2805)

Nhà ở của người Pu Péo ở xóm Phố Trồ, thị trấn Phố Bảng, Đồng Văn, Hà Giang.

Trang phục truyền thống của người Pu Péo cũng có tính hòa đồng với các trang phục khác trong vùng, như đàn ông thường mặc áo cổ Tầu, xẻ tà, áo dài đến gối, quần ống què, đầu đội khăn quấn xấp. Phụ nữ Pu Péo mặc váy xếp, áo xẻ ngực, đầu đội khăn, ngày nay đã có nhiều thay đổi hay thất lạc.

Người Pu Péo ở Hà Giang tin vào tín ngưỡng đa thần, tục lệ thờ cúng tổ tiên được người Pu Péo đặc biệt chú trọng. Họ tin vào những linh hồn của người đã chết và coi đó là một thế lực siêu phàm luôn phù hộ, bảo vệ, gia ân cho gia đình và cộng đồng người Pu Péo.

Thể hiện rõ nét vào việc trước khi làm mùa, đón năm mới, khi thu hoạch, hay trước khi xuất hành đi đâu xa, đến nơi ở mới, dựng vợ gả chồng cho con cháu, họ đều làm lễ, kêu cầu nhiều ngày, nhiều lần đến khi tổ tiên đồng ý, theo kiểu “xin âm dương”. Khi nào tổ tiên cho phép họ mới tiến hành công việc như đã định.

Hiện nay những nét văn hóa dân tộc của người Pu Péo hầu như bị thất lạc, do số người quá ít, lại sinh sống quần cư trong cộng đồng nhiều dân tộc, trong đó đa số là dân tộc Mông, nên ngay cả tiếng nói cũng bị pha trộn. Người Pu Péo có 2 nghề thủ công truyền thống quý báu là thêu ren và dệt thổ cẩm cũng không còn lưu giữ được. Điều lo ngại nhất là theo số liệu khảo sát, điều tra dân số cho thấy, tộc người Pu Péo phát triển chậm, thậm chí là rất chậm. Qua số liệu 8 năm gần đây cho biết, tộc người Pu Péo ở Hà Giang chỉ tăng thêm được 83 người và thời gian gần đây có vẻ còn bị chững lại...

Duy nhất ở Hà Giang, người Pu Péo có khoảng 630 người, sống tập trung ở 3 huyện: Đồng Văn, Yên Minh, Bắc Mê và phân bố lẻ tẻ ở các huyện khác. Trong đó huyện Đồng Văn có khoảng 230 người, Yên Minh có 158 người, Bắc Mê có 101 người, còn lại ở rải rác trên địa bàn các huyện khác trong tỉnh.

Do người Pu Péo có tập quán sống ở những vùng hẻo lánh, dân số, số hộ ít, gây không ít khó khăn cho việc đầu tư, giúp đỡ đồng bào trong việc cải thiện môi trường sống, xây dựng cơ sở hạ tầng để phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội. Như ở xóm Phố Trồ này, chỉ có 8 nóc nhà, nhưng cũng không hẳn ở chung một chỗ, đường vào xóm thì còn nhiều khó khăn, không thể đi xe máy, xe đạp. Nhìn những ngôi nhà trình tường, nhìn cách sinh hoạt và canh tác quanh nhà là hầu như không có gì, chủ yếu dựa vào sự “may rủi” của thiên nhiên, trời đất ban phát.

Nhiều xóm, bản của người Pu Péo còn chưa có đường, có trường, có điện và còn gây không ít khó khăn cho việc chăm sóc sức khỏe ban đầu, thực hiện mục tiêu y tế quốc gia của ngành y tế. Trong khi đó sản xuất, phát triển kinh tế hộ còn manh mún, thiếu thông tin, thiếu phương tiện, kỹ thuật sản xuất, nếu theo tiêu chí mới, số hộ nghèo đói trong tộc người Pu Péo hiện đang chiếm trên 70% số hộ.

Để bảo tồn và phát triển dân tộc Pu Péo tại Hà Giang, tháng 6-2004, tỉnh Hà Giang đã có một dự án “Đầu tư hỗ trợ phát triển dân tộc Pu Péo tại Hà Giang” về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ sản xuất, phát triển cộng đồng, bảo tồn và phát triển văn hóa. Nhưng khi qua thăm xóm Phố Trồ, vào thăm các gia đình, tôi chợt nhận ra rằng, nếu cứ để tộc người Pu Péo ở rải rác như hiện nay thì khó mà đầu tư đạt kết quả cao được.

Cần phải có một quy hoạch tổng thể, giúp người dân Pu Péo có được nơi cư trú thuận tiện, tạo ra việc làm phù hợp, đồng thời cũng cần khuyến khích việc sinh nở. Đặc biệt là việc “trả lại” vốn văn hóa vật thể, như: nhà sàn, trang phục, nghề thủ công truyền thống và khai thác nguồn văn hóa phi vật thể để có những giải pháp phát triển. Những người “nắm giữ” cốt cách văn hóa Pu Péo đều đã ở cái tuổi “thất thập cổ lai hy” thì việc khôi phục lại này may ra còn kịp. Có như thế may chăng mới bảo tồn và phát triển được một dân tộc ít người vào diện nhất nước ta.

Trước mùa xuân này, hoa đào, hoa lê ở bản Phố Trồ, nơi có đồng bào Pu Péo sinh sống đã nhu nhú đầu cành, các nhà đã chuẩn bị gà, gạo, rượu để thờ cúng tổ tiên. Nhưng tôi vẫn thấy nao nao trong lòng vì nơi đây vẫn không phải là một “đắc địa” để đồng bào Pu Péo cư trú bền vững, khi họ còn ở trong những cái nhà, mặc những bộ quần áo và thậm chí cả tiếng nói cũng không phải hoàn toàn là truyền thống của dân tộc mình.

thanhruoi
23-09-2008, 01:45 PM
http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/24848d 88f0ed1277.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2829)Tên gọi khác: Châu Ro, Dơ Ro, Chro, Thượng. Dân số: 15.022 người. Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).


Lịch sử: Họ là lớp cư dân cư trú từ xa xưa ở miền núi Nam Ðông Dương.

Hoạt động sản xuất: Người Chơ Ro chủ yếu làm rẫy, canh tác theo lối phát đốt rồi chọc lỗ tra hạt. Cách phân bố các loại cây trồng trên rẫy khá độc đáo. Vòng ngoài cùng của rẫy thì trồng một số loại cây dây leo như: bầu, bí, mướp, đậu ván... vòng trong trồng sắn. Toàn bộ diện tích còn lại phía trong là trồng lúa có xen canh vừng. Hiện nay, ngoài lúa rẫy, một số nơi đã làm ruộng nước có trâu cày. Việc săn bắn, hái lượm thường tập trung vào thời gian nông nhàn (khoảng tháng 6, 7 âm lịch). Nghề làm vườn, chăn nuôi trong gia đình và thủ công nghiệp chưa phát triển. Chỉ có nghề đan lát bằng tre, mây nứa là phổ biến. Trước đây một số người Chơ Ro đã là phu đồn điền nhưng chỉ với tư cách là những thợ rừng, họ vẫn có rẫy để canh tác.

Ăn: Người Chơ Ro ăn cơm tẻ là chính, hút thuốc lá sợi bằng tẩu. Thức uống có rượu cần. Nam nữ đều ưa thích ăn trầu cau.

Mặc: Xa xưa đàn ông đóng khố, đàn bà quấn váy tấm. Mùa hè ở trần hay mặc áo cánh ngắn, mùa lạnh thường khoác trên mình một tấm chăn. Nhưng ngày nay, đại đa số người Chơ Ro đã ăn mặc theo lối của người Việt cùng địa phương. Ðiều mà khách qua đường có thể nhận biết được người Chơ Ro là họ thường cõng trên lưng một cái gùi. Ðàn bà thường đeo ở cổ những chuỗi hạt cườm ngũ sắc hoặc vòng đồng, vòng bạc hay nhôm. Thiếu nữ thường mang kiềng, dây chuyền và đeo vòng tai rộng vành.


http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/24848d 88f73b44f3.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2830)
Người Chơ Ro cư trú ở vùng núi thấp, nhiều sống suối. Họ không chỉ dùng lá độc cùng các loại công cụ như: rổ, đó... để đánh bắt tôm cá mà còn đan đó đnông để nhốt cá, dự trữ thức ăn.



Ở: Hiện nay, người Chơ Ro sống tập trung ở vùng núi thấp thuộc tây nam và đông nam tỉnh Ðồng Nai. Nơi có số người Chơ Ro cư trú nhiều nhất là các xã: Xuân Bình, Xuân Trường, Xuân Thọ, Xuân Phú thuộc huyện Xuân Lộc; rồi thứ đến là các xã Hắc Dịch, Phước Thái, Ngãi Dao, Bàu Lâm thuộc huyện Châu Thành. Rải rác tại tỉnh Sông Bé và Bà Rịa, ven quốc lộ 15 cũng có một số gia đình Chơ Ro sinh sống. Trước khi có mặt tại những địa điểm nói trên, họ đã từng cư trú chủ yếu tại Bà Rịa - Long Khánh. Từ giữa thế kỉ XX trở lại đây, người Chơ Ro tiếp thu ngày càng mạnh mẽ văn hoá - nếp sống của người Việt ở miền Ðông Nam bộ. Trước đây, họ ở trên những ngôi nhà sàn cao, cửa ra vào mở ở đầu hồi. Ðến nay phổ biến ở nhà đất. Họ đã tiếp thu lối kiến trúc nhà cửa người nông dân Nam bộ: nhà có vì kèo. Nét xưa còn giữ được trong ngôi nhà là cái sạp nằm, chiếm nửa diện tích theo chiều ngang và dài suốt từ đầu đến cuối phần nội thất. Một số nhà có tường xây, mái ngói.

Phương tiện vận chuyển chủ yếu của người Chơ Ro là cái gùi đan bằng tre, mây, cõng ở trên lưng.

Quan hệ xã hội: Trong cơ cấu xã hội Chơ Ro, các quan hệ của gia đình mẫu hệ đã tan rã nhưng quan hệ của gia đình phụ hệ chưa xác lập được. Tính chất gia đình song phương có nhiều biểu hiện, quyền thừa kế tài sản vẫn thuộc về người con gái. Trong gia đình, nữ giới vẫn được nể vì hơn nam giới. Xã hội mới manh nha có sự phân hoá về tài sản. Trong một làng gồm có nhiều dòng họ cùng cư trú.

Cưới xin: Việc lấy chồng, lấy vợ của người Chơ Ro tồn tại cả hai hình thức: nhà trai đi hỏi vợ hoặc nhà gái đi hỏi chồng. Hôn lễ tổ chức tại nhà gái, sau lễ thành hôn thì cư trú phía nhà vợ, sau vài năm sẽ dựng nhà ra ở riêng.

Ma chay: Người Chơ Ro theo tập quán thổ táng. Mộ phần được đắp cao lên theo hình bán cầu. Trong 3 ngày đầu, người ra gọi hồn người chết về ăn cơm; sau đó là lễ "mở cửa mả" với 100 ngày cúng cơm. Tập quán dùng vàng mã đã xuất hiện trong tang lễ của người Chơ Ro và hàng năm cứ vào ngày 23 tháng Chạp âm lịch, người ta đi tảo mộ như người Việt ở địa phương.




http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/24848d 88fd22ba10.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2831)

Người đàn ông Chơ Ro nào cũng biết đan nát thành thạo. Sản phẩm của họ là các loại gùi để vận chuyển lương thực, đi thu hái rau quả và nhiều đồ gia dụng khác. Một trong những sản phẩm độc đáo của nghề đan nơi đây là chiếc võng đan bằng mây.


Nhà mới: Lễ khánh thành nhà mới luôn là dịp chia vui giữa gia chủ với dòng họ và buôn làng.

Lễ tết: Ngày cúng thần lúa là dịp lễ trọng hàng năm. Các loại bánh như: bánh tét, bánh ống và bánh giầy trộn vừng được mọi nhà chế biến để ăn mừng và tiếp khách. Lễ cúng thần rừng được tổ chức như một dịp hội làng và hiện nay, cứ 3 năm một lần nghi lễ này lại được tổ chức trọng thể.

Lịch: Người Chơ Ro cũng có nông lịch riêng theo chu kỳ canh tác rẫy và căn cứ vào tuần trăng.

Học: Xã hội truyền thống Chơ Ro chưa có chữ viết. Việc học hành truyền bá kiến thức cho thế hệ sau theo lối truyền khẩu.

Văn nghệ: Vốn văn nghệ dân gian chỉ còn một vài điệu hát đối đáp trong những dịp lễ hội, họ cất lên lời khẩn cầu Thần lúa và hiện nay rất ít người biết đến. Nhạc cụ đáng lưu ý đến là bộ chiêng đồng 7 chiếc gồm 4 chiếc nhỏ và 3 chiếc lớn. Ngoài ra, đàn ống tre, sáo dọc còn thường thấy ở vùng núi Châu Thành.

Chơi: Trẻ em thích chơi kéo co, cướp cành lá, bịt mắt bắt nhau, thả diều và đánh cù.


http://www.amthuc365.vn/forums/imagehosting/24848d 8902513196.jpg (http://www.amthuc365.vn/forums/vbimghost.php?do=d isplayimg&imgid=2832)

Hiện nay, nhà cửa của người Chơ Ro đã có nhiều thay đổi. Một số gia đình dựng nhà với các vì kèo, cửa ra vào mở ở hướng chính của ngôi nhà, như nhà người Việt ở nông thôn Nam bộ. Nhiều hộ khá giả đã có nhà tường xây, mái ngói... Nét kiến trúc truyền thống của họ chỉ còn hiện diện ở ngôi nhà bếp.




st:vietnamculture

phubephamchoi
23-09-2008, 04:10 PM
chưa hết 54 dân tộc mà .

đọc bài này của thanhruoi hơi nhiều ..nhưng thú vị..cám ơn bro.:-j

Okiaem
23-09-2008, 04:18 PM
Thấy trong cái box này có 2 cái thớt về chủ đề các dân tộc Việt Nam.

Kính đề nghị Tuyemthoi và Thanhruoi nâng cao hơn nữa tinh thần đoàn kết, chung nhau đi, mỗi ông một thớt, kinh quá :D :D

thanhruoi
23-09-2008, 04:26 PM
đi Nhậu Tý Mà Về Nhà Thấy Nhà Cửa Thế Này đây .

Vợ Con đâu,lau Nhà Nhanh Lên ...khà Khà ..

Lâu Quá Không Gặp Okiaem ..!!

à Thớt Của Thảnhuoi Khác Của Tuyemthoi Mổi Người Một Hình Thức Mà .

Tuy Giống Nhau Nhưng Mà Lại Khác Nhau

Okiaem
23-09-2008, 04:32 PM
đi Nhậu Tý Mà Về Nhà Thấy Nhà Cửa Thế Này đây .

Vợ Con đâu,lau Nhà Nhanh Lên ...khà Khà ..

Lâu Quá Không Gặp Okiaem ..!!

à Thớt Của Thảnhuoi Khác Của Tuyemthoi Mổi Người Một Hình Thức Mà .

Tuy Giống Nhau Nhưng Mà Lại Khác Nhau

Ông này rất giỏi cãi nhé :D

Khác gì đâu, y hệt mà. Cả cái nước Việt Nam này chỉ có 54 dân tộc thôi, lấy đâu ra nhiều để các ông khác. Tôi search trên google rồi. Thấy toàn bọn wikipedia nó đăng tải về các dân tộc của mình thôi, đau lắm.

Ae mình chung nhau sưu tầm từ thật nhiều nguồn vào rồi post vào một thớt thôi cho nó đầy đủ, cho nó máu. Có thể để một người post cũng được, quan trọng là bỏ công ra tìm tư liệu hay là được. OK không?

Bực mình cho chửi một câu nhé: "Tiên sư cái thằng Ngô Quang Kiệt - TGM của nợ gì đấy :D"

thanhruoi
23-09-2008, 04:38 PM
Ông này rất giỏi cãi nhé :D

Khác gì đâu, y hệt mà. Cả cái nước Việt Nam này chỉ có 54 dân tộc thôi, lấy đâu ra nhiều để các ông khác. Tôi search trên google rồi. Thấy toàn bọn wikipedia nó đăng tải về các dân tộc của mình thôi, đau lắm.

Ae mình chung nhau sưu tầm từ thật nhiều nguồn vào rồi post vào một thớt thôi cho nó đầy đủ, cho nó máu. Có thể để một người post cũng được, quan trọng là bỏ công ra tìm tư liệu hay là được. OK không?

Bực mình cho chửi một câu nhé: "Tiên sư cái thằng Ngô Quang Kiệt - TGM của nợ gì đấy :D"



Ý KIẾN HAY LẮM OKIAEM !

TỘI GÂY MẤT ĐOÀN KẾT LÀ TUYEMTHOI GÂY NÊN THANHRUOI KHÔNG CÓ TỘI NHÉ..

MÀ NÀY ,THẰNG CHA ngô quang kiệt là thằng nào đó ..láo lắm hả chửi chết "bu" nó luôn .

Okiaem
23-09-2008, 05:17 PM
Ý KIẾN HAY LẮM OKIAEM !

TỘI GÂY MẤT ĐOÀN KẾT LÀ TUYEMTHOI GÂY NÊN THANHRUOI KHÔNG CÓ TỘI NHÉ..

MÀ NÀY ,THẰNG CHA ngô quang kiệt là thằng nào đó ..láo lắm hả chửi chết "bu" nó luôn .

Thôi chửi nó đủ rồi bro ạ.

"bu" nó chẳng có tội tình gì cả :D :D

Các bác thông cảm, lâu em không vào diễn đàn lên hơi máu :D

tuyemthoi
23-09-2008, 05:28 PM
Thấy trong cái box này có 2 cái thớt về chủ đề các dân tộc Việt Nam.

Kính đề nghị Tuyemthoi và Thanhruoi nâng cao hơn nữa tinh thần đoàn kết, chung nhau đi, mỗi ông một thớt, kinh quá :D :D

Okie, tiếp thu

Thế thống nhất là post chung vào thớt của TET nhé :D

Sẽ gộp 2 thớt thàn