PDA

View Full Version : Đọc xong... đau đầu (p9)


Okiaem
07-12-2007, 03:36 PM
Hạnh phúc của bốn bàn tay trắng

Có hai bóng hình nhỏ, một mẹ, một con, sống trên cầu Long Biên bắc qua sông Hồng nối Hà Nội với quận Long Biên. Họ tha thẩn ăn uống, ngủ, chơi trên cầu và trên bãi đất giữa sông.

Chẳng ai thèm chú ý tới họ, đơn giản vì người ta cho rằng đó là hai mẹ con người điên. Vậy mà có một người chụp ảnh trẻ tuổi đến từ bên kia Trái đất đã thay đổi quan điểm sống từ câu chuyện của hai mẹ con.

Những tấm ảnh đẹp về cuộc sống tràn đầy tình mẫu tử ấy đang ở trên trang web có tên Hiệp hội Báo chí thế giới (World Press Association), một địa chỉ Internet có thể được truy cập từ bất kỳ đâu trên thế giới.

Cuộc sống là thế

Hãy xem qua những tấm ảnh của hai mẹ con nhà nọ. Tác giả những tấm ảnh là Justin Maxon, sinh viên nhiếp ảnh báo chí Trường đại học San Francisco. Người phụ nữ được chụp ảnh tên Lê Thị Mùi, sinh năm 1965, con trai chị 5 tuổi, tên là Phả. Dưới đây là một đoạn trong câu chuyện của chị Mùi mà Justin thu âm được, phóng viên đã chép lại bằng văn bản, trung thực với cách phát âm của chị: “đến khi có cháu Phả thì tôi quyết tâm nà không có tiền chồng cho, nhà chồng không cưu mang giúp đỡ, tôi cũng quyết tâm đẻ cho chồng tôi một cháu trai nữa, và tất cả đã được như ý nguyện. Thế nhưng mà nói chung nà mẹ con để dành dụm được một triệu bạc thì đi thuê nhà ở Quảng Ninh nghỉ đẻ đấy, thuê nhà thì bà cụ cũng nấy rẻ, bốn chục nghìn một tháng thôi, thế nhưng mà đến khi vừa tiền đi đẻ ở bệnh viện này, vừa tiền ăn, tiền trọ các thứ, đến được hai tháng rưỡi nà hết sạch. Anh chồng chết rồi chứ, anh chồng bố thằng Phả đấy, nghiện...”.

"Cháu bây giờ nhé, từ lúc mụ dạy đã cười rất sảng khoái ở giấc mơ đấy, giấc ngủ ý. Tôi để ý như thế. Và trong cái tình cảm mẹ con nà có một núc ôm con mà cảm thấy thương con đến lồng làn, có một núc như thế đấy. Phả nà nhất. Từ bé đến giờ chưa bao giờ xa. Có một nần cai sữa để gửi ở nhà dì thôi, mà suốt đêm cháu cứ ra sân ngồi. Đêm tối như thế cháu không sợ, cháu cứ một mực đòi dì nà đi tìm mẹ" (chị Mùi kể - ghi lại từ băng thu âm của Justin Maxon)
Chị Mùi trông hệt như những người điên vẫn thường lang thang không áo quần. Chị cùng con trai lững thững trên cầu, cúi nhặt rác rưởi, vừa để dọn sạch lối đi, vừa tập thể dục. Đến bữa, họ đi xin ăn. Đêm tối, họ ngủ trên manh chiếu ở một góc cầu Long Biên. Hãy nghe câu chuyện của họ:

“Hàng ngày cuộc sống của hai mẹ con thì mẹ ăn thế nào cũng được, còn cháu thì có khi nà cũng phải đi xin cho cháu ăn. Cháu ăn sạch hơn mẹ một tí. Bây giờ hàng ngày đi xin thì cũng muốn dạy cho cháu một cái nễ phép, để cho cháu sau này được ngoan ngoãn hơn. Hàng ngày muốn cháu được ngoan ngoãn thì mẹ không được nói năng những câu thô tục quá để cháu tự hấp thụ vào. Mẹ cũng phải tự rèn mẹ để cho con nó học tập thôi chứ còn không bắt buộc cháu điều gì cả. Cháu rất yêu và quí mẹ”.

Mẹ con chị Mùi đã làm tôi thay đổi



Justin Maxon đến VN cách đây ba tháng bằng số tiền tiết kiệm được sau khi thực hiện một số dự án ảnh ở quê nhà về người vô gia cư và cuộc sống ở New Orleans một năm sau cơn bão Katrina. Anh còn là thành viên của photoworld.com.vn, một website nhiếp ảnh qui tụ nhiều phóng viên ảnh VN dưới cái tên MadMax (tức Max “điên”).

Anh đi lang thang khắp Hà Nội để tìm kiếm đề tài chụp ảnh, rồi bất chợt nhìn thấy mẹ con chị Mùi. Max, 24 tuổi, kể: “Tôi trông thấy một người phụ nữ và đứa trẻ trên cầu Long Biên. Chị mặc độc chiếc quần soọc. Trong vòng hai tuần ở Hà Nội, tôi chưa bao giờ nhìn thấy điều gì giống thế. Đó là điều vô cùng lạ lẫm ở đất nước tôi. Tôi bắt đầu đi theo họ và khám phá mối liên hệ mẫu tử giữa họ. Từ đó, có một điều gì đó thẳm sâu trong tâm hồn cứ kéo tôi đi theo hai mẹ con. Tôi từng cảm thấy lạc lõng khi phải sống ở một đất nước mới với những trải nghiệm mới. Hai mẹ con chị có vẻ lẻ loi giống tôi. Có một điều kỳ lạ ở họ đã làm tôi thay đổi, đó là việc tìm thấy hạnh phúc từ nội tại. Ở Mỹ, bạn được cho là hạnh phúc khi bạn sở hữu một tài sản. Nhưng ở đây, hai mẹ con chị hoàn toàn tay trắng. Chị ấy thậm chí còn thích cuộc sống không nhà cửa hơn là bị nhốt trong một trung tâm xã hội. Chị ấy theo đạo Phật. Chị ấy bị đặt bên lề xã hội. Chị ấy cho tôi thấy tất cả chúng ta đều là con người với tất cả ý nghĩa nhân bản của từ này”.


Max đã chụp ảnh mẹ con chị Mùi trong cuộc sống hằng ngày, những tấm ảnh chân thực, tự nhiên và tình cảm, đúng như những gì anh cảm thấy. Max đi theo hai mẹ con từ sáng tới đêm trong mười ngày đầu tiên. Trong những ngày đó, luôn có một đám đông đi theo anh, người tò mò, người chê cười, người dọa nạt anh không được ghi lại “hình ảnh xấu của VN”, người can ngăn anh vì cho đó là một việc vô tích sự. Max cảm thấy khó khăn khi mình và mẹ con chị Mùi bị bao vây hằng ngày như vậy. Anh giả vờ lảng đi, rồi quay lại với mẹ con chị Mùi cứ ba ngày một lần để hoàn thành những tấm ảnh cuối cùng trong dự án. Cứ như vậy sau ba tuần, 24 bức ảnh đẹp nhất về cuộc sống hằng ngày của mẹ con chị Mùi ra đời.

Tạm biệt chị Mùi và bé Phả, Max “điên” vào Quảng Trị, Đà Nẵng để chụp ảnh về những nạn nhân bị nghi nhiễm chất độc da cam. Sau ba tuần cùng sống, cùng ăn, cùng ở với một gia đình ở Đông Hà, Quảng Trị, Max đã hoàn tất dự án ảnh thứ hai ở VN. Trước khi lên đường về Mỹ, Max nói: “Tôi sẽ tìm cách quay trở lại đây trong khoảng một năm tới, sau khi tốt nghiệp”.

Justin Maxon bắt đầu làm quen với nghề báo từ năm 14 tuổi. Nhưng anh chỉ thật sự bắt đầu với ảnh báo chí hơn một năm qua và đã kịp thực hiện tổng cộng sáu dự án nhiếp ảnh hướng tới những số phận hẩm hiu, bé nhỏ của xã hội. Max theo đuổi nghề báo với lý tưởng nghề nghiệp, cho rằng công việc anh đang làm sẽ góp phần đem lại những đổi thay tích cực, hoặc chí ít cũng giúp được một ai đó. Anh nói: “Tất cả đề tài của tôi đều có tâm hồn và trái tim tôi trong đó. Những chủ thể mà tôi chụp là một phần của cá nhân tôi. Trong hầu hết các dự án, tôi gắng bỏ ra càng nhiều thời gian càng tốt, từ vài tuần cho tới nửa năm. Đó là một việc cần thiết để có được sự thật về chủ thể qua cái nhìn trung thực và khách quan nhất”.


Theo TuoiTre

Okiaem
07-12-2007, 03:38 PM
Đôi dòng suy nghĩ về một triết lý giáo dục của Việt Nam

Việt Nam Net có đăng bài viết với tiêu đề “Mở hội nghị "triết lý giáo dục"”, tôi cũng muốn có vài dòng chia sẻ những suy nghĩ của mình về chủ đề này.

Tốt nghiệp đại học năm 2000, cầm mảnh bằng loại khá trên tay với hi vọng rất nhiều vào một công việc tốt đẹp, một tương lai tươi sáng.

Tôi đi xin việc, hồ sơ của tôi được “rải” đi 20 công ty, ta có, tây có. Tôi cũng được gọi đi thi tuyển đến 10 công ty trong số đó… nhưng điều kỳ lạ là tôi toàn trượt, không một hồi âm, mặc dù các “bài thi” của tôi đều đạt đến 90%, và cứ như vậy, một năm tôi sống trong chờ đợi và tất nhiên là tôi thất nghiệp suốt một năm sau khi ra trường. Đến thời điểm này, tôi vẫn không hiểu tại sao mình “trượt” nữa? chắc tại tôi không “may mắn”.
Năm thứ hai sau khi ra trường, mệt mỏi vì phải “chờ” quá lâu. Gia đình tôi cũng quá sốt ruột khi phải nhìn thấy tôi xin việc theo kiểu “rong chơi đó đây”. Quan hệ và tiền được sử dụng. Tôi được vào một cơ quan Nhà nước. Lúc đó tôi nghĩ là rất tốt vì tôi được sắp xếp vào một vị trí đúng chuyên môn mà mình được học ở trường. Nhưng lại thêm điều một điều kỳ lạ nữa xảy ra với tôi. Hai năm trong cái cơ quan đó tôi hoàn toàn không được làm những việc như mình được nghe và “tưởng” lúc đầu. Hai năm, một kỹ sư thực địa mới ra trường như tôi phải ngồi một chỗ trong một văn phòng chật hẹp, toàn sổ sách, không máy tính, không Internet. Đều như vắt chanh, sáng 8g đến cơ quan, đọc báo, uống nước chè, ngồi chờ đến giờ cơm trưa và… buổi chiều là lặp lại những quy trình đó. Cách thức làm việc như vậy được bạn bè tôi gọi là “uống nước chè thuê”, nó không được gọi bởi hai từ tưởng như đơn giản nhưng lại rất có ý nghĩa là “đi làm”.

Bây giờ, tôi đã tự giải thoát mình ra khỏi môi trường đó. Cùng bạn bè mở ra một công ty, hoạt động trên một lĩnh vực không hề liên quan gì đến những thứ mà tôi được đào tạo ở trường đại học. Làm việc 10 tiếng một ngày, nhưng lúc nào cũng rất vui, bởi một lẽ rất đơn giản là tôi được đi làm một cách thực sự và chính công việc đã giúp tôi “lớn lên”.

Trở lại với vấn đề giáo dục, cá nhân tôi suy nghĩ rằng một nền giáo dục chạy theo thành tích như của chúng ta đã và sẽ tạo ra rất nhiều người có bằng cấp, nhưng lại chỉ có thể sử dụng một số ít, và dĩ nhiên phải để những người còn lại thất nghiệp. Nhà nước phải nuôi sống nhóm thứ nhất vậy nhóm thứ hai sẽ giải quyết thế nào? Điều này thực sự đau xót và cần hết sức nghiêm túc xem xét để chỉnh sửa lại cách chúng ta đang làm. Bởi không ai khác, mà chính chúng ta đã lấy đi quãng thời gian thực sự giá trị của họ, thời thanh niên, đầy sức sống, sức học và sức sáng tạo mạnh mẽ nhất.

Cần phải đi tìm một triết lý cho giáo dục Việt nam? Cần thiết hay không cần thiết? Tôi không đủ khả năng để có thể phân tích vấn đề này, xin được chờ đợi câu trả lời từ các nhà quản lý giáo dục. Nhưng có một điều mà tôi muốn nói: thực tiễn là quan trọng nhất, và có một câu nói gần đây của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng rằng “Nói vừa phải, làm quyết liệt”, xin hãy gắn câu đó vào bất kỳ một triết lý nào.

Bàn về triết lý giáo dục tôi xin được trích đăng một số đoạn trong tác phẩm “Chế độ hiện đại” (Le Régime moderne) – 1891 của tác giả Hippolyte Taine (1828-1893) - nhà triết học và sử học Pháp. Tôi nghĩ nó là một gợi ý tốt, rất thẳng thắn để tất cả cùng suy nghĩ và để cùng nhau tìm ra con đường tốt nhất cho giáo dục Việt Nam.

“Những tư tưởng chỉ hình thành trong môi trường tự nhiên và bình thường của chúng. Cái làm cho mầm mống tư tưởng sinh trưởng, đó là muôn vàn những ấn tượng nhậy cảm mà thanh niên nhận được hàng ngày ở xưởng máy, trong hầm mỏ, ở toà án, trong nghiên cứu, trên công trường, ở bệnh viện, trong cảnh tượng của những dụng cụ, những vật liệu và những hoạt động, đối diện với khách hàng, với công nhân, với lao động, với sản phẩm làm tốt hay xấu, tốn kém hay có lợi; đấy là những tri giác đặc biệt của mắt, của tai, của tay và cả của khứu giác, được thu nhận không cố ý và được chế biến âm thầm; chúng tự tổ chức trong anh ta, để rồi sớm hay muộn gợi ý cho anh ta sự tổ hợp mới, sự đơn giản hoá, sự tiết kiệm, sự hoàn thiện hay sáng chế nào đó. Thanh niên Pháp bị tước đi mọi tiếp xúc quý báu, mọi yếu tố có thể đồng hoá và cần thiết đó, và đúng vào lúc ở cái tuổi phong phú; suốt bảy hay tám năm, họ bị nhốt trong một trường học, cách xa kinh nghiệm trực tiếp và cá nhân, điều sẽ cho họ khái niệm chính xác và sống động về sự vật, con người và nhiều cách khách nhau để sử dụng chúng”.

………

“… Ít ra chín phần mười trong số họ đã mất thời gian và công sức, mất nhiều năm của cuộc đời và những năm tháng hiệu quả, quan trọng hay thậm chí quyết định của mình: đầu tiên hãy tính một nửa hay hai phần ba những người đi thi, tôi muốn nói là bị trượt - sau đó, trong số những người chúng tuyển, được thăng bậc, cấp chứng chỉ, bằng cấp, thì một nửa hay hai phần ba nữa tôi muốn nói là đã bị quá sức. Người ta đã đòi hỏi họ quá nhiều bằng cách yêu cầu họ ngày nào đó phải ngồi ghế hay đứng trước bảng suốt hai giờ liền, và đối với một nhóm các nhà khoa học, họ phải là cái kho tư liệu sống của tất cả kiến thức nhân loại; quả thực, ngày hôm ấy suốt hai giờ liền, họ đã, hay gần như là cái kho tư liệu sống rồi. Nhưng một tháng sau họ không thể như thế nữa; họ không thể chịu nổi cuộc kiểm tra lại một lần nữa; những điều họ sở hữu được quá nhiều, và quá nặng nề, chúng không ngừng trượt ra ngoài tâm trí họ và họ chẳng thiết những cái mới. Sức mạnh tinh thần đã giảm xuống; thứ nhựa dồi dào đã cạn kiệt; con người đã thành niên xuất hiện, và thông thường đó là con người đã bỏ đi. Chỉn chu nề nếp, lập gia đình, cam chịu quẩn quanh trong một vòng tròn và mãi mãi trong vòng tròn ấy, anh ta ẩn mình trong văn phòng hạn hẹp, đứng đắn làm tròn trách nhiệm, chẳng làm gì khác ngoài điều ấy. Hiệu suất trung bình là như vậy; chắc chắn thu nhập có được không cân bằng với chi phí. Ở Anh và ở Mỹ, cũng như xưa kia, trước 1789 tại Pháp, người ta sử dụng cách ngược lại, hiệu suất đạt được là bằng hoặc cao hơn”.

…………

“Khi còn rất trẻ người học trò đã được nhận vào bệnh viện, hầm mỏ, xí nghiệp, văn phòng luật sư, văn phòng kiến trúc sư, nơi anh ta học việc và thực tập; ở nước ta người đó gần giống như người thư ký văn phòng luật hay người học vẽ trong xưởng hoạ. Tiên quyết và trước khi bước vào, anh ta có thể theo vài khoá học tổng quát và sơ lược, để có được một cái khung rất sẵn sàng nhằm đưa vào đó những nhận xét mà về sau anh ta sẽ phải làm. Tuy nhiên, thông thường trong tầm tay anh ta còn có một vài lớp kỹ thuật mà anh ta có thể theo học vào những giờ rảnh rỗi, để dần dần phối hợp với những kinh nghiệm hàng ngày mà anh ta có được. Dưới một chế độ như vậy, khả năng thực hành tăng lên và tự phát triển đến mức độ mà năng lực của người học trò có, và trong chiều hướng đòi hỏi của công việc tương lai, thông qua công việc riêng mà ngay trong hiện tại anh ta muốn tự thích ứng. Theo cách ấy, ở Anh và ở Mỹ, thanh niên nhanh chóng đạt tới chỗ tự mình rút ra được tất cả những điều mà mình có. Ngay từ năm hai lăm tuổi, và thậm chí sớm hơn nhiều, nếu không thiếu năng khiếu và tư chất, anh ta chẳng những là một người thi hành có ích, mà còn là người dám nghĩ dám làm, không chỉ là một bánh răng xe, mà hơn nữa còn là một động cơ, ở Pháp, phương pháp ngược lại đã thắng thế, và qua mỗi thế hệ, tổng cộng những năng lực mất đi thật to lớn”.

…………

“Ở ba bậc đào tạo, trẻ nhỏ, thiếu niên và thanh niên, sự chuẩn bị lý thuyết trên ghế nhà trường, thông qua sách vở, kéo dài và quá tải, vì mục đích thi cử, cấp bậc, bằng cấp, chứng chỉ, và chỉ vì mục đích đó mà thôi; và bằng những phương cách tệ hại, bằng việc áp dụng một chế độ phản tự nhiên và phản xã hội, bằng việc để chậm quá đáng vấn đề học nghề thực hành, bằng chế độ nội trú, bằng cách huấn luyện giả tạo và nhồi nhét máy móc, bằng việc học quá sức mà không đếm xỉa đến thời gian về sau, tới thời kỳ trưởng thành và những trách nhiệm nặng nề mà con người phải thực hiện sau này. Nó bỏ qua thế giới thực, nơi trong thời gian tới người thanh niên sẽ rơi vào, bỏ qua xã hội chung quanh mà anh ta phải thích ứng hay từ bỏ ngay từ đầu, bỏ qua xung đột giữa những con người mà muốn tự vệ, muốn đứng vững, thì trước tiên anh ta phải được trang bị, được vũ trang, được tập dượt và tôi luyện dạn dày. Sự trang bị cần thiết ấy, sự thâu lượm ấy còn quan trọng hơn tất cả những điều khác, sự vững vàng về lương tri, về ý chí, về thần kinh thì trường học của ta cung cấp cho anh ta; hoàn toàn ngược lại, cách giáo dục trên còn xa mới tạo đủ phẩm chất cho anh ta, nó còn làm cho anh ta không đủ năng lực đáp ứng hoàn cảnh sống trong tương lai. Do đó, khi vào đời, những bước chân đầu tiên của anh ta trong môi trường hành động thực tế thường chỉ là một loạt vấp ngã đau đớn; anh ta bị tổn thương, bị vò xé lâu dài, đôi khi bị què quặt mãi mãi. Đó là một thử thách nặng nề và nguy hiểm, sự cân bằng tinh thần và tâm lý bị phá hỏng, và có nguy cơ không hồi phục được. Sự vỡ mộng xẩy ra quá đột ngột, quá trọn vẹn; những thất vọng quá lớn và nỗi đắng cay quá nặng nề”.

Sưu tầm