YukiCenter-du học Nhật Bản tại Hà Nội

Tam giác vàng trên biển

Thứ Ba, 07/12/2010 07:30

571 xem

0 Bình luận

(0)

0

Tàu ra tới cửa Sông Đốc thì trời đã chiều. Phía đằng đông mặt trời đỏ ối đang chầm chậm trôi xuống nước Biển thì mênh mông mây thì huyền hoặc, cả không gian bừng lên một màu tím thẫm. Cứ tưởng đó là chốn thiên thai. Mới hay ta cứ mãi lặn ngụp trong lục địa mà quên đi một khoảng không lớn hơn và rất huyền diệu của vũ trụ.

Đánh bắt trên biển. Ảnh: TL SGTT

Tàu đến trung tâm tam giác của 3 đảo: Thổ Châu, Nam Du, Hòn Chuối, cách đất liền hơn 50 hải lý, anh Phạm Thế Tài, đội trưởng đội kiểm tra nguồn lợi thủy sản Cà Mau giới thiệu cho chúng tôi cái đặc biệt mà ngoài vùng biển này ra các nơi khác không có, đó là mỏ tôm hay còn gọi theo cách gọi của các ngư phủ nước ngoài là “tam giác vàng”.

Từ mỏ tôm

Theo tài liệu điều tra của FAO (Tổ chức Lương thực thế giới) năm 1972 và kết quả điều tra theo đề tài 0801- 85 của bộ Thủy Sản thì nơi đây hàng năm mỏ tôm này cung cấp cho biển Bạc Liêu - Cà Mau khoảng 7- 8 trăm tỉ con tôm giống. Và cũng tại nơi đây, phía dưới lòng biển là các “rạng mực”. Một ghe có thể câu vài tiếng đồng hồ đã thu vài tấn mực. Những lúc như thế người ta đi biển gọi là hội mực, chúng bâu đen đặc các rặng san hô. Và cũng chính nơi đây năm 1984 người viết bài này đã được chứng kiến sự kỳ thú của biển. Tại Sông Đốc một ngư dân buông một mẻ lưới trúng luồng cá rúng, lưới kéo thâu lại còn 2.000 m2 thì không thể kéo nổi nữa và cá rúng đã nổi đặc đầu trên biển. Chúng to đến 5 - 7 ký một con. Chủ ghe phải điện vào bờ “cấp cứu”. Và 16 chiếc ghe chạy ra vớt lên chở vào 127 tấn cá rúng của một vác lưới ấy. Cá bán không hết phải huy động toàn dân của cửa sông Ông Đốc xẻ khô.Một tháng sau người ta đi ngang chợ Sông Đốc còn nghe tanh mùi cá rúng.

Anh Tài bảo với tôi rằng: ngoài tuyến khơi giáp với hải phận quốc tế là nơi tập trung “cá kình”. Một ngư phủ chen vào nói với tôi rằng lúc trước vì gia cảnh khó khăn quá anh đã liều mình ra đây câu và bắt được những con cá lạt to bằng bắp đùi, những con cá thu cỡ 30 - 40 ký. Cá cắn câu mà không kéo lên nhanh thì cá mập táp mất. Cá mập lộn thành bầy, chẳng ai dám mạo hiểm lặn xuống biển.

Một góc thị trấn Sông Đốc, Cà Mau. Ảnh: TL SGTT

Đến “hội cá đường”

Tàu đến gần Hòn Khoai tôi được chỉ cho xem bãi “giao vĩ cá đường”. Nơi đây đã từng tạo ra những huyền thoại của nghề cá. Người đánh cá đường giống như người đi tìm kho báu, vận mạng, đến là cả đời sung sướng. Vùng biển này có một chu kỳ sinh hoạt từ thuở rất xa xưa của cá đường, đó là vào tháng 2-3 âm lịch, hàng trăm ngàn con cá đường từ tít tăm mù khơi, kéo về thực hiện công việc duy trì nòi giống, quẫy xôn xao một vùng biển rộng hàng km2. Ngư dân gọi đó là ngày “hội cá đường”. Có một cái lệ của biển là khi gặp hội cá đường thì ngư dân lập tức tung hô gọi nhau đến để cộng hưởng lộc biển. Lúc ấy hàng trăm chiếc tàu bâu đến đánh bắt, tiếng hò reo vang dậy vùng biển.

Đối với việc đánh bắt cá đường, ngư dân Bạc Liêu - Cà Mau đã sáng tạo ra cách đánh bắt tuyệt vời. Vào năm 1983 ông Sáu Tui, ông Hai Phóc ở Cái Đôi Vàm xây nò ven biển để đón luồng cá đường và mỗi người trúng một mẻ 2-3 ngàn con. Cá đường là một loại cá xuất khẩu có giá trị cao. Mỗi ký lô bong bóng cá đường loại I, thời giá hiện nay là 2 -4 triệu đồng (*). Bình quân 2 con cá thì lấy được 1 ký lô bong bóng. Nghe nói lần ấy ông Sáu Tui bán cá mua vàng xách đến nặng tay. Ông xây một ngôi nhà lầu đồ sộ đầu tiên ở rừng đước Cà Mau.

Chiếc nôi biển bị cày xới

Người ta nói rằng: “Thế kỷ 20 con người đi lên trời còn thế kỷ 21 con người sẽ đi ra biển, xuống sâu lòng biển, thế kỷ 21 sẽ là kỷ nguyên của đại dương, biển sẽ là cứu tinh của thế giới…”. Căn cứ vào định hướng khoa học này thì hai tỉnh Bạc Liêu - Cà Mau sẽ có mặt trong danh sách những tỉnh có tương lai sáng sủa nhất Việt Nam.

Ảnh: TL SGTT

Thế nhưng thực trạng nền đánh cá ở đây với chiều sâu tập quán làm ăn nhỏ, đánh bắt ven bờ đã làm đổ vỡ những khát vọng về biển. Hai tỉnh Bạc Liêu - Cà Mau hiện có khoảng 4.000 tàu thuyền đánh cá nhưng chỉ đạt tổng công suất chưa đến 100 ngàn CV. Như vậy chỉ mới có 24 CV/chiếc. Nếu muốn đánh bắt ngoài tuyến khơi, tàu phải đạt công suất từ 200-250 CV. Khai thác ven bờ đã trở thành cung cách làm ăn, thành tập quán lâu đời, xuất phát từ cách nghĩ vô cùng nguy hiểm của bao thế hệ “chim trời cá nước ai bắt được nấy ăn”. Thế nhưng theo các nhà hải dương học, tuyến ven bờ chính là nơi sinh sản, là chiếc nôi của tôm cá. Chuyến đi này tôi đã tận mắt chứng kiến “công cuộc” ấy.

Khi tàu đến Hòn Đá Bạc, một đảo nhỏ chỉ cách đất liền 2 km, thì đã thấy khoảng 200 chiếc tàu thuyền đánh cá loại nhỏ, chạy máy D Trung Quốc, làm nghề đẩy te (đây là một nghề cấm tuyệt đối trong quy định bảo vệ nguồn lợi thủy sản - BVNLTS). Họ đưa 2 gọng kềm mang theo tấm lưới mắt nhỏ, thi nhau sục sạo dưới lòng biển trong một phạm vi 3 km, làm cho nước biển ở đây ngầu đục. Thấy tàu của Chi cục BVNLTS đến gần, lập tức 200 chiếc tàu mở hết công sức chạy nháo nhào vào cửa sông như ong vỡ tổ, khiến biển ngầu đục hơn, khói phả mịt mù. Các kiểm tra viên xuống cano đuổi bắt quyết liệt mà chỉ bắt được hơn 30 chiếc. Trên mỗi chiếc ghe đều có 2 - 3 cần xé tôm, cá con. Tôi hỏi một chủ ghe: “Mỗi cần xé tôm, cá này anh bán được bao nhiêu tiền?”. Anh ta bảo: “Khoảng 20 ngàn đồng, tôm cá con mà anh”. Anh bạn đồng nghiệp của tôi rên lên: “Làm ăn gì mà đoản hậu quá, chỉ có 20 ngàn mà người ta nỡ sát hại hàng tấn tôm cá của năm sau”.

Tại mỏ tôm, ngoài 500 miệng đáy hàng khơi thì còn vài trăm chiếc tàu đang cố tình quậy nát vùng biển này. Thử hình dung xem hai chiếc tàu cùng mở hết công suất kéo theo một miệng lưới, phía dưới đáy lưới có sợi dây to bằng nắm tay, làm nhiệm vụ chà xát lòng biển cho cá tôm phóng lên chui vào lưới. Chính sợi dây này đã làm gãy đổ tất cả những rặng san hô trên đường đi của nó. Viện Hải dương học cho rằng: triệt tiêu các rặng san hô dưới lòng biển cũng giống như thiêu hủy rừng trên lục địa. Cá tôm sẽ giống như thú rừng bị lòi lưng không còn chỗ sống và sinh sản.

Tại bãi giao vĩ cá đường lẽ ra phải trả lại hiện trạng tự nhiên để duy trì hội cá đường vô cùng quý giá và độc đáo của biển Việt Nam thì thực trạng khai thác cũng diễn ra nhức nhối như thế. Tại đây người ta sử dụng bóng đèn cao áp để rọi xuống nước nhằm dụ tôm, cá nhưng chính những bóng cao áp này đã làm nổ mắt hàng loạt tôm, cá con.

Người ta chưa nhìn đầy đủ chân dung của biển. Trên lục địa thì tấc đất tấc vàng, còn biển cả mênh mông thì được áp dụng một truyền thống khai thác nhỏ, manh mún. Diện tích biển của hai tỉnh này là 68.000km2, thế nhưng hai Chi cục bảo vệ nông lâm thủy sản của hai tỉnh chỉ có 2-3 chiếc tàu cai quản. Cứ đuổi đầu này thì họ chạy đầu kia. Còn chuyện rất đau lòng mà chúng ta đối mặt như một nghịch lý: rừng trên lụa địa bị chặt phá, bị cháy có thể đo đếm được chính xác đên từng cm2 và thiên hạ hô toáng lên… thế nhưng biển bị phá vỡ các rặng san hô, bị xả rác bừa bãi, làm tổn hại sinh thái, sinh cảnh của lòng biển bao nhiêu km2 thì chẳng ai biết được. Và chính vì thế kẻ đốn dăm ba cây rừng thì bị phạt rũ tù, còn người có phá tan hoang lòng biển cũng không ai bắt tội.

Đầu tư cho biển với liều lượng cỡ nào thì đó là công việc của các nhà hoạch định chiến lược kinh tế. Riêng tôi sau một tuần “thám sát biển Đông” thì có riêng một suy nghĩ: Người xưa đã gọi Tổ quốc bằng hai tiếng thiết tha: Đất nước! Đấy là khái niệm cụ thể và đầy đủ nhất. Chúng ta giữ gìn từng ngọn rau tấc đất thì biển cũng phải được đối xử nhu thế. Nhận diện “Việt Nam biển” cũng chính là bắt đầu có một cách nhìn mới, đầy đủ về chân dung kinh tế Việt Nam.

Biển đang cạn kiệt bởi hàng ngàn con tàu quậy nát vùng biển này. Họ đánh bắt cả cá con, không chỉ tận diệt nguồn giống mà còn tàn phá cả lòng biển, hủy hoại nguồn sống của các loài tôm cá. Mỗi cần xé tôm cá con như thế này người ta chỉ bán được 20.000 đồng. Mỗi tàu như thế khi bị cơ quan chức năng phát hiện chỉ bị phạt 20.000 đồng rồi cho vui.

Lòng biển bị chà xát: Tàu kéo theo một miệng lưới, phía dưới đáy lưới có sợi dây to bằng nắm tay, làm nhiệm vụ chà xát lòng biển cho cá tôm phóng lên chui vào lưới.

(*): thời giá 2002 - 2003

Danh mục bài viết

Đang tải dữ liệu loading